Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì. Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc. thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục tăng trưởng khá. Hoạt động đầu tư, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp đạt một số kết quả tích cực....
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì. Hoạt động trồng trọt được triển khai theo mùa vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động chăn nuôi tiếp tục phát triển, đàn lợn, đàn gia cầm và sản lượng các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan tâm thực hiện. Hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản và sản xuất giống thủy sản ổn định, sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước.
1. Trồng trọt
1.1 Cây hàng năm
Tính đến ngày 15/10/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 418.280,2 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lúa đạt 169.005,7 ha, tăng 1,29%; ngô 60.570 ha, tăng 4,03%; rau các loại 72.743,7 ha, tăng 2,38%; hoa 9.121,4 ha, giảm 0,31%; đậu các loại 15.540 ha, tăng 2,42%; các cây hằng năm còn lại 91.299,4 ha, tăng 2,74%. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết nhóm cây, nhất là ngô và các cây hằng năm khác; riêng diện tích hoa giảm nhẹ so với cùng kỳ.

1.2. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Toàn tỉnh có 966 công trình và hệ thống công trình thủy lợi, trong đó 540 hồ chứa với tổng dung tích thiết kế khoảng 874 triệu m³. Dung tích nước tại các hồ hiện đạt khoảng 653,15 triệu m³, tương đương 74,7% dung tích thiết kế. Trước tình hình mưa trên diện rộng, các đơn vị quản lý tăng cường theo dõi mực nước và lưu lượng về hồ, chủ động điều tiết, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du, đồng thời phục vụ nhu cầu cấp nước cho sản xuất.
1.3. Tình hình dịch bệnh
Trong tháng, sâu bệnh trên cây trồng phát sinh cục bộ và được các đơn vị chuyên môn theo dõi, xử lý. So với cùng kỳ, diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá trên lúa, bệnh xoăn lá vi rút trên cà chua và bệnh thán thư trên thanh long tăng; trong khi một số đối tượng gây hại khác giảm. Công tác bảo vệ thực vật tiếp tục tập trung vào các vùng sản xuất cây trồng chủ lực. Tình hình một số đối tượng sâu bệnh như sau:
- Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá gây hại 1.077 ha, tăng 43 ha so với cùng kỳ năm trước; sâu đục thân gây hại 419 ha, giảm 19 ha; chuột gây hại 591 ha, giảm 24 ha; ốc bươu vàng gây hại 278 ha, giảm 75 ha; rầy nâu gây hại 145 ha, giảm 123 ha;
- Cây cà chua: Sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 5,5 ha; bệnh xoăn lá virus gây hại 82 ha, tăng 17 ha;
- Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.331 ha, giảm 12 ha;
- Cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại 1.759 ha, giảm 252 ha; mọt đục cành gây hại 1.470 ha, giảm 19 ha;
- Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 1.205 ha, giảm 31 ha; bệnh thán thư gây hại 1.537 ha, giảm 56 ha;
- Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 757 ha, tăng 92 ha; bệnh thán thư cành, quả gây hại 552 ha, tăng 257 ha so với cùng kỳ năm trước.
2. Chăn nuôi
Chăn nuôi tiếp tục tăng cả về quy mô đàn và sản lượng sản phẩm. Đàn lợn tăng 5,47%, gia cầm tăng 9,09%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng tăng 10,30% và sữa bò tăng 23,86% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh tại một số địa phương, trong khi chi phí thức ăn vẫn tạo áp lực đối với cơ sở chăn nuôi. Cụ thể:
- Đàn trâu ước đạt 27,2 nghìn con, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi trâu chủ yếu được duy trì tại các hộ có điều kiện tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và bãi chăn thả; tuy nhiên, khả năng mở rộng quy mô còn hạn chế do diện tích chăn thả thu hẹp và hiệu quả kinh tế chưa cao.
- Đàn bò ước đạt 324,5 nghìn con, tăng 3,54%; trong đó, đàn bò sữa đạt 32,5 nghìn con, tăng 3,83% so với cùng kỳ. Quy mô đàn bò duy trì mức tăng ổn định, góp phần bảo đảm nguồn cung sản phẩm chăn nuôi và nguyên liệu cho chế biến sữa.
- Đàn lợn ước đạt 1.582 nghìn con, tăng 5,47% so với cùng kỳ. Hoạt động tái đàn và chăn nuôi trang trại được duy trì; tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi và công tác tái đàn.
- Đàn gia cầm ước đạt 25,2 triệu con, tăng 9,09% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, đàn gà đạt 16,95 triệu con, tăng 9,21%. Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu thụ thịt, trứng ổn định. Việc đầu tư chuồng trại, áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học và chủ động phòng, chống dịch bệnh góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Dù vậy, biến động giá thức ăn và giá bán sản phẩm đầu ra vẫn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, mở rộng quy mô của người chăn nuôi.
- Sản lượng thịt hơi các loại trong tháng ước đạt 31.118 tấn, tăng 9,88% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đạt 308.573,6 tấn, tăng 10,3%. Sản lượng sữa bò trong tháng ước đạt 9.860 tấn, tăng 20,0%; lũy kế 10 tháng đạt 98.467 tấn, tăng 23,86%. Sản lượng kén tằm trong tháng ước đạt 1.589 tấn, tăng 7,0%; lũy kế 10 tháng đạt 14.052,7 tấn, tăng 7,66%.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, dịch phát sinh tại 12 xã, phường, với tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế đến ngày 15/10/2026, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 22.859 con, tương ứng 1.091,3 tấn. Đến nay còn 07 xã có dịch bệnh chưa qua 21 ngày. Công tác giám sát, khoanh vùng và xử lý ổ dịch tiếp tục được triển khai nhằm hạn chế lây lan.
- Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Trong tháng, phân bổ 50.700 liều vắc xin, gồm 3.000 liều Tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều Tam liên và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường để phục vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc khử trùng và phòng, chống dịch bệnh.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Hoạt động trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng tiếp tục thực hiện theo kế hoạch. Trong tháng, diện tích rừng trồng tập trung đạt 314,9 ha, tăng 3,21% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 8.773,9 ha, tăng 4,39%. Số cây xanh trồng trong tháng đạt 161,6 nghìn cây, tăng 3,39%; lũy kế đạt khoảng 10,5 triệu cây, tăng 3,27%. Bên cạnh kết quả trồng rừng, tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp, nhất là các vụ phá rừng trái pháp luật.
- Sản lượng gỗ khai thác tháng 10 ước đạt 43.284 m³, tăng 0,68% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 406.309 m³, tăng 2,90%. Sản lượng củi khai thác tháng 10 đạt 28.716 ster, tăng 3,59%; lũy kế 292.267,2 ster, tăng 2,07%. Tốc độ tăng sản lượng gỗ tháng 10 thấp hơn mức tăng lũy kế 10 tháng.
- Trong tháng (từ ngày 10/9 đến 10/10/2026), ghi nhận 13 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, giảm 10 vụ so với cùng kỳ; trong đó có 06 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị thiệt hại 0,44 ha. Lũy kế 10 tháng có 428 vụ vi phạm, tăng 81 vụ; trong đó 207 vụ phá rừng trái pháp luật, tăng 77 vụ (khoảng 59,2%), diện tích rừng bị thiệt hại 35,8 ha, tăng 11,8 ha. Mặc dù số vụ vi phạm trong riêng tháng 10 giảm, diễn biến lũy kế 10 tháng cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn đối mặt nhiều khó khăn.
4. Thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 446,7 ha, giảm 5,23% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 4.674,9 ha, tăng 0,61% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 4.130,6 ha, tăng 0,09%; diện tích nuôi tôm đạt 473,1 ha, tăng 4,85%).
Hoạt động nuôi trồng thủy sản nuôi nội địa tập trung vào nuôi cá ở các xã Đức Linh, Nam Thành, Trà Tân, Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Phúc Thọ Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà và nuôi tôm thâm canh ở các Xã Tân Thành, Liên Hương. Hoạt động nuôi cá có giá trị kinh tế cao bằng lồng bè/bể, bồn tập trung ở các xã Phan Rí Cửa, Đồng Kho, đặc khu Phú Quý, xã Nam Đà, Nhân Cơ, phường 3 Bảo Lộc, xã Bảo Thuận, xã Lạc Dương và phường Lang Biang.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.396,5 tấn, giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 508 tấn, tăng 3,25%); lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 23.667,4 tấn, tăng 0,03% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.253 tấn, tăng 4,05%).
- Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác thủy sản diễn ra tương đối thuận lợi do đang vào cuối mùa vụ cá nam, nguồn lợi các loài cá trích, cá cơm, cá nục... vẫn xuất hiện với mật độ cao và liên tục. Điều kiện này tạo thuận lợi cho ngư dân tập trung khai thác tại các vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh. Các đội tàu cá công suất lớn hoạt động khai thác xa bờ tiếp tục được duy trì ổn định; một số nghề khai thác đạt hiệu quả chủ yếu gồm vây rút chì, bẫy mực tuộc và lưới rê.
Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.336,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 24.248 tấn, tăng 2,88%); lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 220.446,4 tấn, tăng 4,19% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 219.633,5 tấn, tăng 4,04%). Công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục được tăng cường. Các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ; ngư dân thực hiện nghiêm các quy định về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), quy định cấm phát triển nghề lưới kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
- Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng điều kiện thời tiết tương đối bất lợi, cùng với giá tôm thương phẩm ở mức thấp, khiến người nuôi chậm thả giống. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh tôm giống nhìn chung vẫn khá thuận lợi; sau thời gian thu hoạch và cải tạo, phơi hồ, người nuôi bắt đầu thả giống vụ mới, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, bằng cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 22,8 tỷ post, tăng 11,83% so với cùng kỳ năm trước.

II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá trong tháng 10, đóng góp tích cực vào hoạt động kinh tế của tỉnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 18,90% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng lũy kế 10 tháng (12,53%). Ngành chế biến, chế tạo có mức tăng nổi bật, được hỗ trợ bởi hoạt động mở rộng quy mô sản xuất của một số doanh nghiệp và các dự án, dây chuyền mới đưa vào vận hành.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,33% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 31,06%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,41%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,16%.
Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,36%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 486.790 m3, tăng 19,49% so với tháng trước và tăng 19,22% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.919.233 m3, tăng 19,34% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng khá, gắn với nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án xây dựng, hạ tầng và công trình đang triển khai trên địa bàn.
- Sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 3.130 tấn, tăng 10,97% so với tháng trước và tăng 54,78% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 23.461 tấn, tăng 30,08% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng cao do các doanh nghiệp tập trung sản xuất, chủ động nguồn hàng nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong các tháng cuối năm.
- Rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.701 tấn, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.821 tấn, tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước. Tuy chỉ tăng nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng khá so với cùng kỳ chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới và nhu cầu mở rộng xuất khẩu sang một số thị trường. Đặc biệt, sản lượng sầu riêng cấp đông tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao.
- Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.125 nghìn lít, giảm 3,28% so với tháng trước nhưng tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 206.762 nghìn lít, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất chủ động cho nhu cầu tăng cao trong các tháng cuối năm (đặc biệt là sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng tăng).
- Giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 1.082 nghìn đôi, tăng 2,48% so với tháng trước và tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.960 nghìn đôi, tăng 57,66% so với cùng kỳ năm trước là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam tăng quy mô, mở rộng dây chuyền sản xuất.
- Phân bón: Sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 17.431 tấn, tăng 0,13% so với tháng trước nhưng tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 129.025 tấn, tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng trong bối cảnh giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao và có xu hướng mở rộng diện tích (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…).
- Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 156,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 1,94% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.290,5 nghìn tấn, tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước.
- Nhôm thỏi: Trong tháng ước đạt 14.120 tấn, lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 34.182 tấn. Sự hình thành sản phẩm nhôm thỏi tiếp tục mở rộng hoạt động chế biến sâu khoáng sản trên địa bàn tỉnh.
- Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.109 triệu kWh, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 11,28% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 30.353 triệu kWh, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước.
- Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 691 triệu kWh, tăng 2,17% so với tháng trước và tăng 52,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 5.436 triệu kWh tăng 18,78% so với cùng kỳ năm trước. Điện thương phẩm tăng mạnh trong tháng, phản ánh nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt tăng lên, trong đó có nhu cầu của các cơ sở công nghiệp mới đi vào hoạt động (đặc biệt nhà máy điện phân nhôm).
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 10,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,06%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,57%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,18%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,67%. Phân theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,36%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,24%.
Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 7,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,03%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,64%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,58%.
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước phản ánh nhu cầu lao động phục vụ hoạt động, sản xuất kinh doanh cũng như gia tăng đơn đặt hàng, mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp và sự phục hồi của thị trường tiêu thụ. Qua đó góp phần vào tăng trưởng ngành công nghiệp của tỉnh.
1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp
Doanh thu của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng tăng 4,18% so với tháng trước và 19,42% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 12,32%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo có doanh thu tháng 10 tăng 29,19% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 19,63% của 10 tháng. Diễn biến này cùng với kết quả tăng IIP cho thấy hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tiếp tục chuyển biến tích cực trong tháng đầu quý IV.
Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu trong tháng tăng 20,19% so với tháng trước và 19,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 18,14%. Kết quả này chủ yếu nhờ các doanh nghiệp tối ưu hóa công suất vận hành, đẩy mạnh khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như đá, cát, đất đắp.
Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Đây là ngành có mức tăng trưởng doanh thu nổi bật nhất trong các nhóm ngành công nghiệp chủ yếu, với mức tăng 5,95% so với tháng trước, 29,19% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 19,63%.
Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu trong tháng tăng 2,66% so với tháng trước và 12,90% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 8,20%. Hoạt động phát điện và cung ứng điện tiếp tục đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh; sản lượng điện sản xuất tháng 10 tăng 11,28% và điện thương phẩm tăng 52,98% so với cùng kỳ.
Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 0,79% so với tháng trước và 14,56% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 10,06%. Hoạt động cung cấp nước sạch và dịch vụ môi trường tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và hoạt động sản xuất, kinh doanh.
1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Trong 10 tháng năm 2026, hoạt động thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai. Toàn tỉnh thu hút 18 dự án đầu tư mới, gồm 04 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 14 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 814,33 tỷ đồng và 24,84 triệu USD; diện tích đất thuê lại đạt 34,14 ha. Lũy kế đến thời điểm báo cáo, các KCN có 249 dự án còn hiệu lực, trong đó có 57 dự án FDI và 192 dự án trong nước. Tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 45.932 tỷ đồng và 544,962 triệu USD; diện tích đất đăng ký đạt 785,5 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 57,21%. Hiện có 176 doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN.
Trong kỳ, 06 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu, bảo dưỡng hạ tầng với tổng giá trị thực hiện 30,37 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đến thời điểm báo cáo, vốn đầu tư thực hiện đạt 360,79 tỷ đồng, bằng 40,98% kế hoạch năm. Tình hình triển khai tại các KCN cụ thể như sau:
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Thực hiện duy tu cây xanh và hạ tầng KCN, với giá trị đầu tư trong kỳ đạt 0,02 tỷ đồng, bằng 2,44% kế hoạch năm (0,82 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 0,28 tỷ đồng, bằng 33,54% kế hoạch.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Triển khai duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng; giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 0,10 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đạt 0,42 tỷ đồng.
- KCN Hàm Kiệm I: Tiếp tục duy tu cây xanh, hệ thống giao thông, thoát nước và thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 1,75 tỷ đồng, bằng 7,68% kế hoạch năm (22,79 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 10,14 tỷ đồng, bằng 44,50% kế hoạch.
- KCN Hàm Kiệm II: Tập trung san lấp mặt bằng, duy tu cây xanh, bảo dưỡng và thi công các tuyến đường nội khu. Theo số liệu báo cáo, giá trị đầu tư hạ tầng tháng 9 đạt 20,00 tỷ đồng, bằng 9,76% kế hoạch năm (205,00 tỷ đồng); lũy kế vốn thực hiện đạt 126,00 tỷ đồng, bằng 61,46% kế hoạch.
- KCN Tân Đức: Tiếp tục thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng đối với phần diện tích còn lại; dọn dẹp, san lấp mặt bằng, thi công các tuyến đường D2, D3, D4, N1, N2, N3 và nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 8,00 tỷ đồng, bằng 1,69% kế hoạch năm (473,00 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 222,05 tỷ đồng, bằng 46,95% kế hoạch.
- KCN Tuy Phong: Tiếp tục san lấp mặt bằng và thi công các tuyến đường nội khu. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 9 là 0,50 tỷ đồng. Lũy kế vốn thực hiện dự án từ đầu năm đến thời điểm báo cáo là 1,90 tỷ đồng. Lũy kế vốn đầu tư thực hiện dự án đến thời điểm báo cáo là 262,08/370,00 tỷ đồng đạt 71,35% trên tổng vốn dự án.
Về tình hình thu hút đầu tư tại từng KCN, KCN Lộc Sơn hiện có 56 dự án (gồm 09 dự án FDI và 47 dự án trong nước); KCN Phú Hội có 32 dự án (gồm 11 dự án FDI và 21 dự án trong nước); KCN Phan Thiết giai đoạn 2 có 12 dự án (gồm 02 dự án FDI và 10 dự án trong nước). KCN Tâm Thắng thu hút được 49 dự án (trong đó có 05 dự án FDI và 44 dự án trong nước); KCN Nhân Cơ có 01 dự án đầu tư. Trong khi đó, các KCN Tuy Phong, Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, Phú Bình và Nhân Cơ 2 đang trong quá trình xây dựng, chưa thu hút được dự án đầu tư.
2. Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 2.513,1 tỷ đồng, tăng 50,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.382,8 tỷ đồng, chiếm 94,82% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 51,14% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 742,7 tỷ đồng, tăng 37,59% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương trong nước ước đạt 888,2 tỷ đồng, tăng 78,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn nước ngoài (ODA) đạt 68,22 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết đạt 669,9 tỷ đồng, tăng 33,64% so với cùng kỳ năm trước; vốn khác đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 130,3 tỷ đồng (chiếm 5,18% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn), tăng 32,45% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 12.345,2 tỷ đồng, đạt 61,37% so với kế hoạch năm, tăng 25,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 11.250,2 tỷ đồng, tăng 26,43% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 4.612,4 tỷ đồng, tăng 35,95% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 2.408,2 tỷ đồng, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; vốn nước ngoài 205,3 tỷ đồng, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết 3.953,2 tỷ đồng, tăng 36,75% so với cùng kỳ năm trước; vốn khác 71 tỷ đồng, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.095 tỷ đồng, tăng 20,07% so với cùng kỳ năm trước.
Tiến độ thực hiện vốn tại một số dự án còn chậm, chủ yếu do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng thi công chưa đồng bộ, khối lượng thực hiện chưa đủ điều kiện nghiệm thu và hồ sơ thanh toán chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị đầu tư, ký kết hợp đồng tại một số công trình chưa bảo đảm tiến độ, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.

Trong tháng (từ ngày 15/9 đến 15/10/2026) toàn tỉnh có 260 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 28,37% so với cùng kỳ năm trước; 77 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 35,09%; 92 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 5,75%; 214 doanh nghiệp giải thể, tăng 86,04% (tương ứng 99 doanh nghiệp).
Tính chung 10 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.489 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; 793 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,45%; 1.558 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,27%; 1.657 doanh nghiệp giải thể, tăng 51,44%. Tổng vốn đăng ký thành lập doanh nghiệp đạt 19.853,4 tỷ đồng, tăng 15,2%.
Từ đầu năm đến ngày 20/10/2026, có 49 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp được cấp mới, với tổng vốn đăng ký 175.059,7 tỷ đồng; 56 dự án được điều chỉnh chủ trương hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế còn 3.018 dự án có hiệu lực với tổng vốn đăng ký 970.939 tỷ đồng, trong đó 247 dự án FDI với vốn đăng ký khoảng 230.001 tỷ đồng.
III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Trong tháng 10 và 10 tháng năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng nhanh hơn bán lẻ hàng hóa, trong khi nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa tiếp tục mở rộng. Những kết quả này phản ánh sự gia tăng hoạt động tiêu dùng và dịch vụ; thị trường hàng hóa cơ bản ổn định, nguồn cung đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.553,8 tỷ đồng, tăng 3,00% so với tháng trước và tăng 25,63% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 11.151,6 tỷ đồng, tăng 3,39% so với tháng trước và tăng 22,57% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.942,7 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 40,07% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.459,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 169.020,2 tỷ đồng, tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 102.905,6 tỷ đồng, tăng 18,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 34.973 tỷ đồng, tăng 26,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 31.141,6 tỷ đồng, tăng 18,42% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Công tác quản lý thị trường
Trong tháng, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức hợp lý, tương đối ổn định. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu nhìn chung các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không xuất hiện các điểm nóng vi phạm về đo lường, chất lượng, găm hàng chờ tăng giá, giảm lượng xăng dầu bán ra mà không có lý do chính đáng; nguồn cung xăng dầu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn, không có hiện tượng khan hiếm. Từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2026, lực lượng Quản lý thị trường đã tiến hành kiểm tra 82 vụ, phát hiện 75 vụ vi phạm, xử lý 72 vụ (03 vụ chuyển kỳ trước sang), đang xử lý 6 vụ, tổng số tiền xử phạt 292 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/10/2026 đã kiểm tra 1.159 vụ; phát hiện và xử lý 1.056 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 7.959 triệu đồng.
2. Giá tiêu dùng (CPI)
Giá tiêu dùng tháng 10/2026 tiếp tục tăng so với tháng trước, chủ yếu do diễn biến giá nhiên liệu và dịch vụ giao thông. Trong khi đó, giá một số nhóm hàng, dịch vụ giảm, góp phần hạn chế mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng chung. Diễn biến giá trong tháng có sự khác biệt giữa các nhóm hàng hóa, dịch vụ, phản ánh tác động của cả yếu tố chi phí và nhu cầu thị trường. CPI tháng 10/2026 tăng 0,39% so với tháng trước; tăng 2,15% so với tháng 12/2025 và tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước.
So với tháng trước, nhóm giao thông tăng 2,41%, trong đó giá nhiên liệu tăng 6,02%, là yếu tố tạo áp lực lớn lên CPI tháng 10. Ngược lại, nhóm lương thực giảm 0,10% và nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,86%, góp phần kiềm chế mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Tính chung 10 tháng năm 2026, biến động CPI chủ yếu chịu tác động từ các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông và giáo dục.
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,16%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,36%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; Giao thông tăng 2,41%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,09%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,08%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,82%.
* Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng
- Nguyên nhân tăng: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 08, 15 và 22 tháng 10/2026, tính bình quân chung tháng 10/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 6,02%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 6,54% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 0,74%. Giá gas trong tháng tăng 11,33% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng theo giá gas thế giới, tăng 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 3,47% so với tháng trước, một số loại rau tươi bị ảnh hưởng mưa nhiều làm giảm sản lượng thu hoạch, giá bán thị trường tăng so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải tăng 6,56% so với tháng trước; cà chua tăng 2,24%; rau muống tăng 5,07%; đỗ quả tươi tăng 5,35%.
- Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá lương thực giảm 0,1% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do nguồn cung tại địa phương cũng như trong nước dồi dào, tác động giá bán thị trường giảm nhẹ so tháng trước. Giá các mặt hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,08% so tháng trước, do nhu cầu mua sắm của người dân tương đối ổn định, các cơ sở kinh doanh triển khai chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Giá nhóm mặt hàng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,82% so tháng trước, giảm chủ yếu nhóm du lịch trọn gói giảm 4,39%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,18% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
* Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 10 tháng năm 2026
CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 3,76%, làm CPI chung tăng 0,94 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thực phẩm tươi sống tăng trong các dịp lễ, Tết, đặc biệt là giá thịt lợn tăng 3,82% do nguồn cung chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường; giá thịt chế biến tăng 3,39% và giá mỡ lợn tăng 15,83%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,56%, làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng, giá thuê nhà và giá gas tăng; tính chung 10 tháng năm 2026, giá gas tăng 24,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm giao thông tăng 7,17%, góp phần làm CPI tăng 0,82 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 13,67% theo các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu trong nước và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 26,8% do chi phí vận tải tăng cao. Bên cạnh đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,54%, làm CPI tăng 0,38 điểm phần trăm, do giá thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và chi phí nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 5,59%, góp phần làm CPI tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh tăng học phí. Các nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,23%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,61%, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp lễ, Tết cùng với chi phí nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển và nhân công tăng, góp phần làm chỉ số giá các nhóm hàng này tăng so với cùng kỳ năm trước.
Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,14%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian.

3. Hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch tháng 10 tiếp tục tăng về lượt khách, ngày khách và doanh thu so với cùng kỳ. Trong tháng diễn ra một số sự kiện văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh, trong đó có Lễ hội Katê và Lễ hội Văn hóa - Du lịch Dinh Thầy Thím, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thu hút khách tham quan.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.207,3 nghìn lượt, tăng 1,11% so tháng trước và tăng 31,27% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,3 nghìn lượt, tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 11,74% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 4.085,2 nghìn ngày khách, tăng 1,77% so với tháng trước và tăng 31,36% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 110,2 nghìn lượt khách, tăng 11,5% so với tháng trước và tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 360,9 nghìn ngày khách, tăng 13,23% so với tháng trước và tăng 28,35% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 10 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 20.680,3 nghìn lượt, tăng 20,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 743,6 nghìn lượt, tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 38.340,6 nghìn ngày khách, tăng 22,08% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 1.205 nghìn lượt, tăng 15,32% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 3.856,7 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 796,7 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 41,91% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.083,7 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 39,92% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 62,4 tỷ đồng, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 25,51% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 7.086,8 tỷ đồng, tăng 26,09% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 27.320,5 tỷ đồng, tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 565,7 tỷ đồng, tăng 35,34% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.229,8 tỷ đồng, tăng 1,57% so với tháng trước và tăng 33,99% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 57.514,5 tỷ đồng, tăng 23,71% so với cùng kỳ năm trước.
4. Hoạt động dịch vụ khác
Doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.459,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 910,6 tỷ đồng, tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 11,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 196 tỷ đồng, tăng 0,52% so với tháng trước và tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 198,8 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 23,80% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 278,4 tỷ đồng, tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 11,95% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.524,2 tỷ đồng, tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 29,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 351,4 tỷ đồng, tăng 1,62% so với tháng trước và tăng 22,16% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 10 tháng năm 2026, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 31.141,6 tỷ đồng, tăng 18,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 7.592 tỷ đồng, tăng 10,85% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.765,5 tỷ đồng, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.623,6 tỷ đồng, tăng 24,36% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 2.517,5 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 14.460,7 tỷ đồng, tăng 24,23% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 3.182,3 tỷ đồng, tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước.
5. Hoạt động vận tải
Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục tăng cả về vận chuyển hành khách và hàng hóa. Nhu cầu đi lại, tham quan du lịch cùng hoạt động sản xuất, thương mại và lưu thông hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vận tải, kho bãi duy trì hoạt động. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.296,9 tỷ đồng, tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 26,49% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 12.256,9 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.040,5 nghìn HK, tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 430.522,6 nghìn HK.Km, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 28.978,3 nghìn HK, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 4.147.785,9 nghìn HK.Km, tăng 17,46% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.476,4 nghìn tấn, tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 29,52% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 359.086,2 nghìn tấn.Km, tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 28,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 21.983,2 nghìn tấn, tăng 21,91% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.220.588,1 nghìn tấn.Km, tăng 21,941% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.296,9 tỷ đồng, tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 26,49% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 12.256,9 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.130,5 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.084,9 tỷ đồng, tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.586,5 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 454,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước.

- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 2.779,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.580,9 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 198,2 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).
IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.700 tỷ đồng, giảm 12,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 28.718,9 tỷ đồng, bằng 83,40% kế hoạch năm và tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa ước đạt 26.495,5 tỷ đồng, bằng 81,09% kế hoạch năm và tăng 7,06%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 2.223,4 tỷ đồng, bằng 126,33% kế hoạch năm và tăng 73,75% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 10 tháng năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 3.292 tỷ đồng (bằng 86,55% kế hoạch năm và giảm 1,98% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.330,9 tỷ đồng (bằng 96,74% kế hoạch năm và tăng 7,51%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 7.013,1 tỷ đồng (bằng 104,87% kế hoạch năm và tăng 23,72%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.599,2 tỷ đồng (bằng 95,21% kế hoạch năm và tăng 1,46%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.854,9 tỷ đồng (bằng 52,27% kế hoạch năm và tăng 0,22%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 4.685,3 tỷ đồng (bằng 80,78% kế hoạch năm và tăng 13,75%).
2. Chi ngân sách nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 3.629,7 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 43.842,5 tỷ đồng, bằng 89,85% kế hoạch năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 18.751,8 tỷ đồng, bằng 141,92% kế hoạch năm; chi thường xuyên đạt 25.090,6 tỷ đồng, bằng 82,65% kế hoạch năm.
3. Hoạt động tín dụng
Công tác huy động vốn: Đến 30/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 258.498 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.223 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 12,75%. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam đạt 255.941 tỷ đồng (chiếm 99,01% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.557 tỷ đồng, (chiếm 0,99% tổng huy động vốn).
Ước đến ngày 31/10/2026, tổng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 261.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 31.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 13,84%.
Hoạt động tín dụng: Đến 30/9/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 380.860 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 9.876 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,66%. Trong đó: dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 378.621 tỷ đồng (chiếm 99,41% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.238 tỷ đồng (chiếm 0,59% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 268.735 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 112.125 tỷ đồng.
Ước đến ngày 31/10/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 383.500 tỷ đồng, so với đầu năm tăng khoảng 12.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,37%.
Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,27% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,51% - 8,27%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7,54% - 8,11%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,08%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,93%/năm.
Đến ngày 30/9/2026, dư nợ cho vay đối với ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.600 tỷ đồng, chiếm 48,99% tổng dư nợ; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 30.500 tỷ đồng, chiếm 8,01% tổng dư nợ; ngành nông lâm thủy sản đạt 163.760 tỷ đồng, chiếm 43,00% tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ, không thay đổi so với cuối năm 2025.
V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (04/10/1961 - 04/10/2026); 25 năm Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy (04/10/2001 - 04/10/2026); Festival Hoa Đà Lạt; Ngày Văn hóa Việt Nam; tuyên truyền Tháng cao điểm “Vì người nghèo” năm 2026; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: Lễ hội Trung thu năm 2026 tại 03 khu vực với chủ đề “ Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng”, Lễ hội Katê của người Chăm tỉnh Lâm Đồng năm 2026,... Ngoài ra, tính đến ngày 14/10/2026 đã tổ chức 95 suất biểu diễn phục vụ chính trị, 903 buổi chiếu phim, 01 Chương trình Dạ hội Điện ảnh, 03 Tuần phim, 153 buổi tuyên truyền và 02 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia thụ hưởng văn hóa.
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh: Đón 11.781 lượt khách, trong đó có 1.893 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng 1.750 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt 441 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên 295 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận 8.514 lượt và Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông 781 lượt khách). Lũy kế từ ngày 01/01 đến 13/10/2026 đã đón 275.297 lượt khách tham quan, trong đó có 20.371 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính 63.293 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt 38.153 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên 7.804 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận 156.058 lượt và Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông 9.989 lượt khách).
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 7.437 lượt khách (trong đó có 23 khách quốc tế); phục vụ 23 lễ viếng, báo công, sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/10/2026 đã tiếp đón 1.777 đoàn khách tham quan với 130.760 lượt khách (trong đó có 390 khách quốc tế); phục vụ 202 lễ viếng, 10 lễ báo công, 07 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 03 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 27 sinh hoạt chuyên đề; ngoài ra đã tổ chức triển lãm 04 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật; phối hợp với các báo, đài thực hiện 13 phóng sự.
+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 05 đoàn với 1.070 lượt khách; lũy kế từ ngày 01/01 đến 14/10/2026 đã đón 18.959 lượt khách đến thăm viếng, học tập, trải nghiệm.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 199 thẻ (thiếu nhi 44 thẻ), phục vụ 214.407 lượt bạn đọc, luân chuyển 61.856 lượt tài liệu. Lũy kế từ 01/01 đến 10/10/2026 đã cấp mới và gia hạn 6.555 thẻ (thiếu nhi 4.640 thẻ), phục vụ 2.668.216 lượt bạn đọc, luân chuyển 555.406 lượt tài liệu; trưng bày 146.033 bản sách nhân phục vụ độc giả.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng đã tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện thể thao "Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên" năm 2026 và 04 giải thể thao quần chúng (Giải Bóng đá 7 người các Dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải chạy Việt dã "DLU Run - 50 năm đổi mới và phát triển"; Giải chạy cộng đồng và gây quỹ từ thiện "UpRace 2026").
- Thể thao thành tích cao: Phối hợp Liên đoàn Quần vợt Việt Nam tổ chức Giải Quần vợt đồng đội nữ quốc tế Billie Jean King Cup nhóm III khu vực Châu Á - Châu Đại Dương; tổ chức Giải Bóng đá Cúp Quốc gia 2026/2027; Giải Bóng đá hạng Nhất Quốc gia 2026/2027. Trong tháng, cử các đội tham gia thi đấu 09 giải thể thao; kết quả đạt được 21 huy chương (06 HCV, 04 HCB, 11 HCĐ), trong đó bao gồm 04 huy chương quốc tế (02 HCV, 02 HCĐ). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 13/10/2026 đã tham dự 102 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 722 huy chương (165 HCV, 183 HCB, 374 HCĐ); trong đó bao gồm 01 HCB tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 47 huy chương quốc tế (26 HCV, 09 HCB, 12 HCĐ).
2. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Hoạt động thông tin, tuyên truyền tập trung phổ biến chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các sự kiện chính trị, văn hóa trên địa bàn. Công tác thông tin cơ sở, truyền thông chính sách và phản ánh tình hình địa phương được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin đến người dân.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Tập trung tham mưu triển khai các nhiệm vụ liên quan đến Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 theo Quyết định số 1868/QĐ-TTg ngày 29/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Rà soát hiện trạng, nhu cầu đầu tư, phương án triển khai hệ thống thông tin nguồn và hệ thống truyền thanh cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông để xây dựng giải pháp và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và triển khai thực hiện Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 09/9/2026 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đội liên ngành phòng, chống các hành vi vi phạm trong hoạt động in và lợi dụng hoạt động in để sản xuất hàng giả trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.
3. Giáo dục và đào tạo
Hoạt động giáo dục và đào tạo tiếp tục triển khai nhiệm vụ năm học 2026–2027; các cơ sở giáo dục tập trung ổn định tổ chức, bảo đảm điều kiện dạy và học. Toàn tỉnh có 210 trường mầm non, 247 trường tiểu học, 112 trường tiểu học và trung học cơ sở, 149 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 65 trường trung học phổ thông và 13 cơ sở giáo dục khác. Mạng lưới cơ sở giáo dục được duy trì nhằm đáp ứng nhu cầu học tập trên địa bàn tỉnh.
Giáo dục nghề nghiệp: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng nghề; 05 trường trung cấp, 30 trung tâm dạy nghề (trong đó: công lập 13 trung tâm); cơ sở dạy nghề khác có 17 cơ sở. Đào tạo nghề hệ cao đẳng cho 130 học viên, trung cấp nghề 1.350 học viên, sơ cấp nghề 4.700 học viên, đào tạo không chính quy 13.349 học viên.
Nhìn chung, hoạt động giáo dục, đào tạo được triển khai theo kế hoạch năm học mới. Các cơ sở giáo dục tiếp tục củng cố cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ giáo viên và tổ chức dạy học theo chương trình; hoạt động đào tạo nghề duy trì với nhiều trình độ và hình thức đào tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân.
4. Y tế
Trong tháng, ngành y tế tiếp tục giám sát, phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, tổ chức tiêm chủng và duy trì hoạt động khám, chữa bệnh. Số ca mắc sốt xuất huyết và tay chân miệng tăng so với tháng trước, đặt ra yêu cầu tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch tại địa bàn có nguy cơ cao. Hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được duy trì.
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 1.478 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 177 ca so với tháng trước (1.301 ca) và tăng 219 ca so với cùng kỳ năm trước (1.259 ca). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 5.542 ca mắc, tăng 177 ca so với cùng kỳ năm trước (5.365 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 172 ổ dịch, lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026 đã phát hiện xử lý 718 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện ca mắc; lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 05 ca mắc bệnh sốt rét.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 844 ca mắc, tăng 136 ca so với tháng trước và tăng 568 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 4.733 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng ghi nhận 08 ca mắc, giảm 10 ca so với tháng trước và tăng 08 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 118 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.346 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.230 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.523 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.563 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.755 trẻ, mũi 2 cho 3.650 trẻ và mũi 3 cho 3.622 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.502 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 432 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân và chăm sóc tàn tật cho 425 bệnh nhân.
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 215 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 05 bệnh nhân.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 18 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 02 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 17 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.925 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.800 người, tử vong 1.609 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 506.630 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.519 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 240.736 ngày, xét nghiệm cho 683.003 tiêu bản, chẩn đoán 156.988 hình ảnh và phẫu thuật 5.280 trường hợp. Ước 10 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 4.293.813 lượt người; 357.366 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.213.199 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,79 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 86,97%; xét nghiệm cho 6.169.570 tiêu bản; chẩn đoán 1.511.530 hình ảnh và phẫu thuật cho 59.384 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 25 cơ sở thực phẩm, phát hiện 08 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 90,0 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc và 01 người tử vong.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
Tình hình an ninh, trật tự tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ổn định; các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo và hỗ trợ phát triển vùng khó khăn tiếp tục được triển khai. Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng, chăm lo giáo dục, y tế và hỗ trợ đời sống góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Hoạt động văn hóa, thể thao và thông tin cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì. Trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa và công trình thể thao; mạng lưới phát thanh, truyền hình, internet tiếp tục được mở rộng, hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và các hoạt động văn hóa, xã hội.
Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên được thực hiện đầy đủ. Hệ thống trường lớp, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên vùng DTTS không ngừng được mở rộng về số lượng và chất lượng; toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với hàng chục trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS.
Hoạt động y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì thông qua mạng lưới khám, chữa bệnh tại cơ sở và chính sách hỗ trợ tiếp cận dịch vụ. Các chương trình chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế tiếp tục góp phần giảm khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế của người dân vùng sâu, vùng xa.
5.2. Chính sách người có công
Trong tháng đã giải quyết 288 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; ban hành 80 quyết định điều chỉnh trợ cấp, phụ cấp cho các đối tượng tại các xã, phường, đặc khu trên địa bàn toàn tỉnh; giải quyết chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06 là 242 hồ sơ và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.535 người có công với cách mạng. Trong 10 tháng đầu năm 2026 đã giải quyết 3.125 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.535/17.971 người với tổng kinh phí hơn 47,52 tỷ đồng.
Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh có 325.739 người tham gia BHXH, đạt 98,35% kế hoạch năm và tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; 245.944 người tham gia BHTN, đạt 97,04% kế hoạch và tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước; 3.176.625 người tham gia BHYT, đạt 99,16% kế hoạch và tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,77% dân số.
Trong tháng 9/2026, đã giải quyết mới 9.182 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.898 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 275 người; trợ cấp 1 lần cho 2.262 người; chế độ ốm đau cho 5.208 người; chế độ thai sản cho 1.176 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 261 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.606 người và hỗ trợ học nghề cho 292 người). Lũy kế đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 89.767 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 17.573 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.837 người; trợ cấp 1 lần cho 21.592 người; chế độ ốm đau cho 51.854 người; chế độ thai sản cho 11.455 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 3.029 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 16.308 người và hỗ trợ học nghề cho 1.265 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/9/2026 - 14/10/2026)
Trong tháng xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, giảm 09 vụ so với tháng trước và giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 25 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 36 người, giảm 8 người so với tháng trước và giảm 13 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 567 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 175 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 353 người, giảm 26 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 378 người, giảm 188 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong tháng, xảy ra 02 đợt thiên tai, chủ yếu do mưa lớn trên diện rộng, gây thiệt hại tại các địa phương gồm: phường Xuân Hương - Đà Lạt, phường Phan Thiết, phường Đông Gia Nghĩa và các xã Quảng Khê, Hàm Liêm, Hàm Kiệm, Sơn Mỹ, Hàm Thuận, Tân Hội, Hàm Thuận Bắc, Cát Tiên 3, Phan Sơn. Thiên tai làm 10 nhà bị sập, 58 căn nhà bị hư hại, 41 hộ phải di dời, 3.380 căn nhà bị ngập; 2.638 ha lúa bị thiệt hại, 92 ha rau màu bị ảnh hưởng, 296 con gia súc và 2.400 con gia cầm bị cuốn trôi; đồng thời làm hư hỏng 02 cầu dân sinh, 06 tuyến đường giao thông bị ngập, hư hỏng và gây sạt lở tại 10 điểm taluy. Ước tổng giá trị thiệt hại 45,27 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 25/12/2025 đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh xảy ra 26 đợt mưa lớn, kèm theo giông lốc, sét đánh và sạt lở, làm 02 người chết, 04 người bị thương, 18 nhà bị sập, 179 nhà bị hư hại và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác, với tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 121,74 tỷ đồng.
- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2026) xảy ra 04 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 03 người chết, đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 55 vụ cháy nổ, tăng 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 05 người chết và 02 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại hơn 8.979 triệu đồng.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ, đã xử phạt 08 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 11 vụ vi phạm, đã xử phạt 1.034,5 triệu đồng (10 tháng năm 2025 xảy ra 19 vụ vi phạm, xử phạt 3.598 triệu đồng).
* Đánh giá chung
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực; hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành, lĩnh vực đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu trong tháng 10 có tốc độ tăng cao, nhất là sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ, cho thấy những tín hiệu tăng tốc của hoạt động kinh tế trong tháng đầu quý IV.
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì ổn định. Diện tích gieo trồng cây hằng năm đạt 418.280,2 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ; hoạt động chăn nuôi phát triển khá, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 10,30%; sản lượng sữa bò tăng 23,86%, kén tằm tăng 7,66%. Hoạt động lâm nghiệp được duy trì; sản lượng thủy sản khai thác đạt 220,4 nghìn tấn, tăng 4,19%.
Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 18,90% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,06%, cao hơn 10,64 điểm phần trăm so với mức tăng 10 tháng. Một số ngành công nghiệp có mức tăng nổi bật như sản xuất kim loại, sản xuất da và các sản phẩm liên quan, chế biến thực phẩm. Đặc biệt, hoạt động sản xuất nhôm thỏi đạt 14.120 tấn trong tháng 10, góp phần hình thành sản phẩm công nghiệp mới có quy mô lớn, mở rộng hoạt động sản xuất của ngành chế biến, chế tạo. Sản lượng điện sản xuất 10 tháng tăng 7,82%.
Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 10 tháng tăng 19,78% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch duy trì đà phát triển, tổng lượt khách phục vụ tăng 20,37%, trong đó khách quốc tế tăng 15,32%; doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 57.514,5 tỷ đồng, tăng 23,71%. Hoạt động vận tải phát triển tương đối đồng đều ở cả vận tải hành khách và hàng hóa; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,91%.
Hoạt động đầu tư, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp đạt một số kết quả tích cực. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng tăng 25,84% so với cùng kỳ; riêng tháng 10 tăng 50,04%, cho thấy tiến độ thực hiện vốn có chuyển biến trong tháng đầu quý IV. Các khu công nghiệp thu hút 18 dự án đầu tư mới. Toàn tỉnh có 3.489 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,90%; 793 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,45%; tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 19.853,4 tỷ đồng, tăng 15,20%.
Hoạt động thu ngân sách nhà nước và tín dụng tiếp tục được duy trì. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng đạt 28.718,9 tỷ đồng, bằng 83,4% kế hoạch năm. Hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,84% so với đầu năm, góp phần tạo nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của nền kinh tế.
Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai thực hiện. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền được tổ chức thường xuyên; công tác giáo dục, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân được duy trì. Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và chính sách bảo hiểm được thực hiện theo quy định. Tình hình tai nạn giao thông có chuyển biến tích cực, 10 tháng giảm 175 vụ so với cùng kỳ; số người chết giảm 26 người và số người bị thương giảm 188 người, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, hạn chế. Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của thời tiết, chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh; tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp. Dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh tại một số địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi và tái đàn.
Trong lĩnh vực công nghiệp, mặc dù sản xuất có dấu hiệu tăng tốc nhưng kết quả giữa các ngành và sản phẩm chưa đồng đều. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có tiến độ thực hiện thấp so với kế hoạch năm. Hoạt động đầu tư, xây dựng còn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng, thủ tục và tiến độ thi công; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý mới đạt 61,37% kế hoạch năm, tạo áp lực lớn đối với việc hoàn thành nhiệm vụ trong hai tháng cuối năm.
Đối với thương mại, dịch vụ, mặc dù doanh thu tăng khá nhưng tiến độ một số chỉ tiêu còn thấp so với kế hoạch; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 79,69%. Trong lĩnh vực tài chính, tiến độ thực hiện các khoản thu ngân sách chưa đồng đều, nhất là các khoản thu về nhà, đất mới đạt 52,27% kế hoạch. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn khó khăn, số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng còn thấp so với mức tăng huy động vốn. Bên cạnh đó, tình hình một số bệnh truyền nhiễm, thiên tai, mưa lớn và sạt lở tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân, sản xuất nông nghiệp và kết cấu hạ tầng tại một số địa phương.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
.jpg)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm file: thongkelamdong.nso.gov.vn/storage/manager/report_ktxh/Y54wIwk-85e222f5-70c1-4f72-b1bf-9a0699427b04.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/