Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Nhìn chung, trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, các động lực tăng trưởng chủ yếu có chuyển biến tích cực và tương đối đồng đều giữa công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng....
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc, gieo trồng Vụ Hè thu; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác trồng rừng đúng kế hoạch; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác, nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản đạt kết quả tích cực, lợi thế tôm giống tiếp tục được giữ vững.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
Tính đến ngày 15/8/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 254.344,9 ha, tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa Vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 60.000 ha, tăng 3,54%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 8.050 ha, tăng 2,98%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 10.300 ha, tăng 0,5%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 4,17%.

1.2. Cây lâu năm
Trong tháng, phát triển cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Hiện tại phần lớn diện tích các cây trồng đang bước vào giai đoạn nuôi quả, đây là thời điểm then chốt quyết định năng suất cuối vụ nên người dân đang tích cực chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả.
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Tính đến ngày 15/8/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 461,47 triệu m3, bằng 50,8% dung tích thiết kế, tăng 7,34 triệu m3 so với tháng trước. Trong tháng, trên địa bàn tinh tiếp tục xuất hiện mưa trên diện rộng nhưng lượng mưa không phân bố đồng đều giữa các khu vực. Công tác quản lý, bảo đảm an toàn công trình và kết cấu hạ tầng thủy lợi tiếp tục được tăng cường; triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du trong mùa mưa, lũ; đôn đốc việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi; đồng thời kiểm tra, rà soát hiện trạng các công trình thủy lợi bị hư hỏng đột xuất trên địa bàn để xử lý kịp thời.
1.4. Tình hình dịch bệnh
Trong tháng, công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Vì vậy, trong tháng sâu bệnh gây hại trên các loại cây trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cây trồng.
2. Chăn nuôi
Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, quy mô đàn vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tiêu dùng tương đối ổn định, giá một số sản phẩm chăn nuôi thuận lợi, các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô; tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn tiềm ẩn nguy cơ, chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y vẫn ở mức cao đã ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.434 tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 246.349 tấn, tăng 11,36%.
- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,2 nghìn con, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ, chủ yếu do một số hộ chăn nuôi ổn định, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và bãi chăn thả. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu chưa thực sự hấp dẫn so với các vật nuôi khác.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320,2 nghìn con, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,53%). Quy mô đàn bò tăng do nhu cầu thị trường đối với thịt bò và sữa tương đối ổn định, một số cơ sở tiếp tục duy trì quy mô và đầu tư cải tạo đàn.
- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.542 nghìn con, tăng 5,36% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,8 nghìn con, tăng 4,93%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu do các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất sau thời gian thị trường có tín hiệu thuận lợi; mô hình chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp tiếp tục được duy trì (trong tháng, có 02 doanh nghiệp chăn nuôi lợn đầu tư mới và mở rộng quy mô: Công ty TNHH chăn nuôi Trần Nguyễn, quy mô 3.600 con lợn nái và Trang trại chăn nuôi Quảng Phú của Công ty TNHH MTV Nông trại Cao Nguyên Quảng Phú 1 phát triển đàn lợn giống, lợn thịt thương phẩm với sản lượng xuất trại khoảng 60.000 con lợn thịt và duy trì quy mô 15.000 con lợn nái sinh sản). Việc áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học giúp hạn chế thiệt hại do dịch bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn, cùng với giá thức ăn chăn nuôi và chi phí phòng, chống dịch ở mức cao nên một số hộ nhỏ lẻ còn thận trọng trong việc tái đàn.
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.600 nghìn con, tăng 9,28% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.620 nghìn con, chiếm 67,56% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,34%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng tương đối ổn định, cùng với việc chủ động phòng, chống dịch bệnh và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn giúp người nuôi mạnh dạn tái đàn. Tuy nhiên giá thức ăn chăn nuôi và giá sản phẩm đầu ra biến động vẫn ảnh hưởng đến quyết định mở rộng sản xuất của một bộ phận hộ chăn nuôi.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, dịch bệnh trên đàn vật nuôi tiếp tục diễn biến phức tạp; dịch bệnh đã phát sinh tại 12 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.859 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.091,3 tấn tại 51 hộ/cơ sở thuộc 34 thôn của 20 xã, phường; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày.
- Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Đã phân bổ 50.700 liều vắc xin (gồm 3.000 liều tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều tam liên) và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường, phục vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng và phòng, chống dịch bệnh.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai theo kế hoạch; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.284 ha, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 7.126 ha, tăng 4,52%. Diện tích trồng cây phân tán tháng 8/2026 ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,13% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 8,8 triệu cây, tăng 3,3%.
- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.859 m3, tăng 2,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 318.447 m3, tăng 3,37%.
- Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 27.405 ste, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 235.498 ste, tăng 1,91%.
- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/7/2026 - 10/8/2026) là 31 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 16 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 17 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 11 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,7 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/8/2026), tổng số vụ vi phạm là 381 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 175 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 77 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 64 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 10,4 ha).
- Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, tập trung theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn cấp xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 8 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,6 ha.
4. Thuỷ sản
- Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng ước đạt 457,8 ha, tăng 1,10% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 3.827,0 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.410,6 ha, tăng 1,18%; diện tích nuôi tôm đạt 369,7 ha, tăng 4,22%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.454,5 tấn, giảm 0,67% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 490,2 tấn, tăng 2,02%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18.777,7 tấn, tăng 0,29% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.230 tấn, tăng 3,95%).
- Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác trên ngư trường biển, các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ, thực thi nghiêm pháp luật về khai thác IUU; thực hiện nghiêm quy định cấm phát triển nghề lướt kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.958 tấn, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 24.858 tấn, tăng 5,15%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 170.372,4 tấn, tăng 3,84% (sản lượng khai thác biển đạt 169.760,1 tấn, tăng 3,71%).

- Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc thả nuôi, sản xuất tôm giống ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18,1 tỷ post, tăng 12,85%.
II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong tháng, toàn ngành tập trung sản xuất các đơn hàng đã ký kết nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương; nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 7,09% so với tháng trước và tăng 19,14% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,93% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,33%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,71%.
Tính chung 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,31%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,78%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,61%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 427.535 m3, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.997.128 m3, tăng 19,36% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng tương xứng trong điều kiện tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.909 tấn, tăng 6,11% so với tháng trước và tăng 34,86% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 28.211 tấn, tăng 18,64% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng.
- Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 2.525 tấn, tăng 4,73% so với tháng trước và tăng 49,85% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 17.094 tấn, tăng 24,99% so với cùng kỳ. Sản phẩm thủy sản chế biến là một trong những sản phẩm thế mạnh của tỉnh Lâm Đồng, hiện nay đã và đang được các doanh nghiệp tận dụng lợi thế để phát triển và trong thời gian tới hi vọng sẽ ngày càng khởi sắc hơn do đây là vùng có cơ sở hạ tầng, giao thông thuận tiện và tỉnh cũng đang có xu hướng dịch chuyển ưu tiên phát triển ngành công nghiệp vùng ven biển phía Nam nhằm kết nối liên vùng Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ.
- Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 17.721 nghìn lít, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 13,83% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 168.576 nghìn lít, tăng 17,83% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; sản phẩm bia đóng chai giảm so với tháng trước một phần do nhu cầu giảm và do sự điều tiết sản xuất tại các Chi nhánh.
- Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 837 nghìn đôi, giảm 8,70% so với tháng trước và tăng 67,24% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.557 nghìn đôi, tăng 40,52% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất.
- Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 14.446 tấn, tăng 12,85% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 91.975 tấn, tăng 12,11% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…).
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 119,25 nghìn tấn, tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 18,55% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 958,04 nghìn tấn, tăng 2,83% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm nhôm thỏi: Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất trong tháng 7 khoảng 600 tấn, ước tính tháng 8/2026 sản xuất 2.500 tấn.
- Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.309 triệu kwh, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.629 triệu kwh, tăng 6,65% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 525 triệu kwh, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 13,66% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 4.031 triệu kwh tăng 9,36% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo (đặc biệt sản xuất sản phẩm nhôm thỏi tại Khu công nghiệp Nhân cơ) khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này tăng đáng kể; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu).
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,56% so với tháng trước và tăng 9,61% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,29%.
Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 9,55% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,07%.
Tính chung 8 tháng năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,63%; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,96%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,53%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,25%.
1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp
Trong tháng, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 6,47% so với tháng trước và tăng 15,41% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,25% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu ngành công nghiệp tăng trưởng ổn định, đóng góp quan trọng vào kết quả tăng trưởng kinh tế.
Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 2,00% so với tháng trước và tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 17,45% so với cùng kỳ. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn.
Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 4,67% so với tháng trước và tăng 22,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 13,11% so với cùng kỳ. Doanh thu tăng trưởng cao nhờ việc phát huy tối đa lợi thế nguồn nguyên liệu nông sản và khai khoáng tại chỗ để đẩy mạnh chế biến sâu, kết hợp cùng sự xuất hiện của các sản phẩm mới như: nhôm thỏi, phanh xe cơ giới,… từ các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh.
Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu tăng 7,86% so với tháng trước và tăng 11,34% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 5,51% so với cùng kỳ. Mức tăng trong tháng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn.
Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 2,22% so với tháng trước và tăng 7,29% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,23% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng của ngành nhằm đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường.
1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Trong tháng (từ ngày 15/7 - 15/8/2026), tỉnh Lâm Đồng đã thu hút được 04 dự án vào các KCN trên địa bàn tỉnh (vốn đầu tư 5 triệu USD và 244 tỷ đồng, diện tích đất thuê là 6,92 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026, đã thu hút được 17 dự án đầu tư (trong đó có 03 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 814,3 tỷ đồng và 7,7 triệu USD, diện tích đất thuê 27,96 ha.
Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 5 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị 10,32/881,57 tỷ đồng đạt 1,17% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026. Cụ thể:
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,10 tỷ đồng.
- KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông, hệ thống thoát nước, tiếp tục thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,2/22,79 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026.
- KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng là 4/205 tỷ đồng đạt 1,95% kế hoạch năm 2026.
- KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng là 6/473 tỷ đồng đạt 1,27% kế hoạch năm 2026.
- KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước).
- KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án.
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.578,8 tỷ đồng, tăng 26,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.376,2 tỷ đồng, chiếm 87,16% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 28,37% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 592,7 tỷ đồng, tăng 38,73% so với cùng kỳ; vốn trung ương ước đạt 251,5 tỷ đồng, tăng 2,63% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,9 tỷ đồng, giảm 18,60% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 503 tỷ đồng, tăng 35,37% so với cùng kỳ; vốn khác 9,2 tỷ đồng, tăng 2,41 lần so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 202,6 tỷ đồng, chiếm 12,84% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 14,34% so với cùng kỳ.
Tính chung 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.721,4 tỷ đồng, đạt 38,39% so với kế hoạch năm, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.853,2 tỷ đồng, tăng 13,39% so với cùng kỳ (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.083,3 tỷ đồng, tăng 30,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương ước đạt 1.047,6 tỷ đồng, giảm 33,59% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 105,6 tỷ đồng, giảm 21,76% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 2.573,9 tỷ đồng, tăng 31,64% so với cùng kỳ; vốn khác 42,7 tỷ đồng, tăng 91,51% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 868,2 tỷ đồng, tăng 34,53% so với cùng kỳ.

Trong tháng (từ ngày 17/7-17/8/2026) toàn tỉnh có 282 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 54,29% so với cùng kỳ; 38 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 35,59%; 63 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 22,22%; 533 doanh nghiệp giải thể, tăng 4,85 lần (tương ứng 442 doanh nghiệp). Nguyên nhân từ đầu tháng 7 năm 2026 đến nay, Cơ quan Đăng ký kinh doanh đang phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai thực hiện “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”. Cơ quan thuế và cơ quan Đăng ký kinh doanh thực hiện các biện pháp nghiệm vụ, hướng dẫn các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ nhiều năm nhưng chưa làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật doanh nghiệp.
Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.017 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 13,94% so với cùng kỳ; 666 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,88%; 1.405 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,43%; 1.185 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,58 lần (tương ứng 726 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 15.886,8 tỷ đồng, tăng 17,06%.
Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 19/8/2026), toàn tỉnh có 41 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.994,2 tỷ đồng; 39 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 19/8/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.960 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.711 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng).
III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Trong tháng, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đi lại của người dân, đồng thời phục vụ hiệu quả lượng khách du lịch trong mùa cao điểm hè. Hàng hóa trên thị trường dồi dào, đa dạng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch. Hoạt động du lịch tiếp tục diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành duy trì ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi, giải trí tăng cường hoạt động và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân và du khách. Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, vận tải đường thủy duy trì ổn định, phục vụ thuận lợi nhu cầu đi lại của người dân và du khách đến đảo Phú Quý.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.030,8 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 22,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.589 tỷ đồng, tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 20,84% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 4.058,8 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước và tăng 32,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 132.755,8 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 81.012 tỷ đồng, tăng 17,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 27.428,5 tỷ đồng, tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Công tác quản lý thị trường
Trong tháng, lực lượng Quản lý thị trường tiếp tục tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tập trung phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường kiểm soát đối với các mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung - cầu và giá bán xăng dầu được thực hiện thường xuyên, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các dấu hiệu bất thường, như tăng giá không hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định, góp phần bảo đảm thị trường hoạt động ổn định, minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 104 vụ, phát hiện 85 vụ vi phạm và xử lý 91 vụ (trong đó có 7 vụ chuyển từ kỳ trước) với tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt 714,6 triệu đồng (trong đó tiền xử phạt vi phạm hành chính 673,25 triệu đồng). Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/8/2026, lực lượng chức năng đã kiểm tra 1.013 vụ, xử lý 934 vụ, với tổng số tiền xử phạt 7.631,6 triệu đồng.
2. Giá tiêu dùng (CPI)
Trong tháng Tám và 8 tháng đầu năm 2026, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động đã ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,68% so với tháng trước, tăng 1,34% so với tháng 12/2025 và tăng 4,33% so với cùng kỳ. Bình quân 8 tháng năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính các nhóm hàng đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,16%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; Giao thông tăng 4,28%; Thông tin và truyền thông tăng 0,21%; Giáo dục tăng 0,07%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%.
* Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng
- Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng du lịch hè tăng nên nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá gas trong tháng tăng 5,41% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng 29.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 tháng 8/2026, tính bình quân chung tháng 8/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 9,26%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 9,53% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 22,17%.
- Nguyên nhân giảm: Giá lương thực giảm 0,68% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do đang vào mùa thu hoạch lúa hè thu, nguồn cung dồi dào nên giá bán thị trường giảm so tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,57% so với tháng trước, một số loại rau tươi đang vào kỳ thu hoạch nên nguồn cung tại địa phương dồi dào, giá bán thị trường giảm so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải giảm 0,7% so với tháng trước; cà chua giảm 1,17%; đỗ quả tươi giảm 0,5%.
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,31% so với bình quân cùng kỳ năm 2025.
* Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 8 tháng năm 2026
CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm lương thực tăng 1,85%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm, chủ yếu do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp, gạo tẻ ngon tăng cao trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán. Nhóm thực phẩm tăng 4,25%, góp phần làm CPI tăng 1,06 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn, thịt gia cầm tăng trong bối cảnh nguồn cung còn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng tăng cao và chi phí chăn nuôi duy trì ở mức cao. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%, làm CPI tăng 1,03 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước tăng 18,75% theo diễn biến giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,55%, góp phần làm CPI tăng 0,63 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,96% theo các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 26,76%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,86%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 7,04%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do nhu cầu tiêu dùng cao cùng với chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng.
Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá các dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá và kích cầu tiêu dùng.

3. Hoạt động du lịch
Trong tháng, hoạt động du lịch bước vào mùa sôi động với hàng loạt lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao, ẩm thực và xúc tiến thương mại, góp phần thu hút du khách và quảng bá hình ảnh địa phương với sự kết nối biển xanh, cao nguyên, nông nghiệp công nghệ cao và văn hóa bản địa. Điểm nhấn là thông điệp “Hành trình kết nối Biển - Hoa - Đại ngàn”, khai thác lợi thế không gian du lịch mới sau sáp nhập tỉnh, tạo điều kiện để du khách kết hợp nghỉ dưỡng biển, khám phá cao nguyên, trải nghiệm văn hóa và thưởng thức đặc sản trong cùng một hành trình. Chuỗi hoạt động nổi bật gồm Ngày hội Du lịch - Mua sắm - Giao lưu ẩm thực Việt, Festival Khinh khí cầu, Festival Ẩm thực, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, chương trình LamDong Night và các hoạt động giao lưu văn hóa. Du lịch thể thao tiếp tục được khai thác, tiêu biểu là Lam Dong TriFactor 2026 diễn ra từ ngày 14 - 16/8 tại phường Tiến Thành, góp phần quảng bá cảnh quan và phát triển du lịch trải nghiệm. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Liên Khương mở cửa trở lại sau nâng cấp, tạo thuận lợi cho kết nối và thu hút du khách, kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành du lịch.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.344,5 nghìn lượt, tăng 5,15% so tháng trước và tăng 26,75% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,5 nghìn lượt, tăng 4,07% so với tháng trước và tăng 9,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.269,1 nghìn ngày khách, tăng 5,01% so với tháng trước và tăng 28,18% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,8 nghìn lượt khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 13,49% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 317,4 nghìn ngày khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 16,59% so với cùng kỳ.
Lũy kế 8 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 16.460,9 nghìn lượt, tăng 18,98% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 584,7 nghìn lượt, tăng 12,13% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 30.533,6 nghìn ngày khách, tăng 20,82% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 8 tháng năm 2026 đạt 997,5 nghìn lượt, tăng 14,8% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 3.182,6 nghìn ngày khách, tăng 18,04% so với cùng kỳ.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 813,8 tỷ đồng, tăng 5,99% so với tháng trước và tăng 30,66% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.184 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 33,33% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 61 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 31,06% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 5.565,4 tỷ đồng, tăng 23,57% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 21.418,5 tỷ đồng, tăng 24,31% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 444,6 tỷ đồng, tăng 39,04% so với cùng kỳ.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.516,4 tỷ đồng, tăng 6,44% so với tháng trước và tăng 29,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 45.588,8 tỷ đồng, tăng 22,31% so với cùng kỳ.

4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 780,5 tỷ đồng, tăng 1,78% so với tháng trước và tăng 10,87% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 183,2 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 170,2 tỷ đồng, tăng 3,95% so với tháng trước và tăng 23,52% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 264,4 tỷ đồng, tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.644,8 tỷ đồng, tăng 6,48% so với tháng trước và tăng 22,71% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 339,9 tỷ đồng, tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 18,41% so với cùng kỳ.
Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.831,9 tỷ đồng, tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.366,7 tỷ đồng, tăng 11,82% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.220,9 tỷ đồng, tăng 22,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.965,7 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 11.445,5 tỷ đồng, tăng 22,52% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.484,5 tỷ đồng, tăng 12,78% so với cùng kỳ.
5. Hoạt động vận tải
Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, gắn với nhu cầu đi lại, vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày càng tăng. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ; tính chung 8 tháng năm 2026, doanh thu ước tăng 23,83% so với cùng kỳ.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.012,5 nghìn HK, tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 432.639,5 nghìn HK.Km, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 16,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 22.945,7 nghìn HK, tăng 16,69% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.302.829,9 nghìn HK.Km, tăng 17,21% so với cùng kỳ.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.361,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 26,04% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 347.165,8 nghìn tấn.Km, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 26,48% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 16.963,4 nghìn tấn, tăng 19,8% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.495.190,7 nghìn tấn.Km, tăng 20,31% so với cùng kỳ.
- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.341,7 tỷ đồng, tăng 27,86% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.741,9 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.261,4 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 352,8 tỷ đồng, tăng 1,08% so với cùng kỳ.
- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.097,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.928,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 169,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).

IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước thực hiện 2.397,7 tỷ đồng, tăng 29,95% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước thực hiện 23.940 tỷ đồng, bằng 69,52% kế hoạch năm và tăng 15,67% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 22.130 tỷ đồng, bằng 67,73% kế hoạch năm và tăng 12,43%; thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.810 tỷ đồng, bằng 102,84% kế hoạch năm và tăng 78,54% so với cùng kỳ.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 8 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.900 tỷ đồng (bằng 76,24% kế hoạch năm và tăng 3,19% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.143 tỷ đồng (bằng 82,84% kế hoạch năm và tăng 16,32%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 6.055 tỷ đồng (bằng 90,54% kế hoạch năm và tăng 46,3%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.095 tỷ đồng (bằng 76,74% kế hoạch năm và tăng 0,31%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.225 tỷ đồng (bằng 43,73% kế hoạch năm và tăng 1,66%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.765 tỷ đồng (bằng 64,91% kế hoạch năm và tăng 12,19%).
2. Chi ngân sách nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng ước thực hiện 4.983,2 tỷ đồng, lũy kế 8 tháng năm 2026 ước 35.474,8 tỷ đồng, bằng 72,7% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 14.764,4 tỷ đồng, bằng 111,74% kế hoạch năm; chi thường xuyên 20.693,3 tỷ đồng, bằng 68,17% kế hoạch năm.
3. Hoạt động tín dụng
Công tác huy động vốn: Đến 31/7/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 251.517 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 22.241 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,7%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 248.690 tỷ đồng (chiếm 98,88% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.827 tỷ đồng, (chiếm 1,12% tổng huy động vốn). Ước đến 31/8/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 253.700 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 24.424 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 10,65%.
Hoạt động tín dụng: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.440 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.456 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.159 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.281 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 266.510 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.930 tỷ đồng. Ước đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.300 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.316 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,24%.
Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,28% - 4,74%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,43% - 8,09%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 6,87% - 7,63%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,69%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,8%/năm.
Dư nợ cho vay theo ngành: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 183.976 tỷ đồng, chiếm 48,74% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.540 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 160.924 tỷ đồng, chiếm 42,64% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025.
V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); tổ chức triển lãm chuyên đề “Hội An - Từ ký ức đấu tranh cách mạng đến Di sản Văn hóa Thế giới” tại Di tích quốc gia Nhà lao Thiếu nhi Đà Lạt; Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026 với chủ đề “Giữ gìn bản sắc văn hóa biển - Cầu quốc thái dân an - Ngư dân vươn khơi thắng lợi”; tổ chức chương trình âm nhạc đường phố,… Ngoài ra, đã tổ chức 08 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 09 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở; 107 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở; tổ chức Tuần phim Ấn Độ và chiếu phim miễn phí phục vụ nhân dân; bên cạnh đó tổ chức biểu diễn doanh thu đạt 55 triệu đồng.
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh: Đón 37.760 lượt khách, trong đó có 1.455 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 7.513 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.676 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 235 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 27.971 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 365 lượt). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến 13/8/2026) đã đón 239.504 lượt khách tham quan, trong đó có 17.023 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 58.125 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 37.118 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 7.076 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 128.394 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.791 lượt khách).
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 20.399 lượt khách (trong đó có 34 khách quốc tế); phục vụ 30 lễ viếng, báo công. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 12/8/2026) đã tiếp đón 1.478 đoàn khách tham quan với 111.062 lượt khách (trong đó có 332 khách quốc tế); phục vụ: 186 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 24 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh); tham gia triển lãm chuyên đề “Lan tỏa - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh” tại Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt Kim Liên, tỉnh Nghệ An; thực hiện 09 phóng sự tại Di tích Dục Thanh.
+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 15 đoàn với 1.518 lượt khách; lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/8/2026) đã đón 16.080 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 256 thẻ (thiếu nhi 129 thẻ), phục vụ 159.081 lượt bạn đọc, luân chuyển 15.798 lượt tài liệu, sưu tầm 716 tin bài về Lâm Đồng, trưng bày 801 tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi, chương trình “Sách đến mọi nhà” với hình thức xe sách lưu động, chương trình giao lưu - trao tặng 500 quyển các tác phẩm thuộc bộ sách “Khi trẻ là tác giả”. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/8/2026) đã cấp mới và gia hạn 6.206 thẻ (thiếu nhi 4.546 thẻ), phục vụ 1.842.314 lượt bạn đọc, luân chuyển 475.357 lượt tài liệu, trưng bày 144.964 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức Giải ba môn phối hợp “Lam Dong Tri Factor 2026”; Giải Bơi phong trào đường đua xanh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; tổ chức chuỗi sự kiện thể thao “Sports Festival” năm 2026 (Giải vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026; Giải Quần vợt quốc tế ITF Masters Tour 2026; Giải Golf cảnh sát các nước Asean mở rộng năm 2026; Giải Golf công an nhân dân mở rộng - lần thứ 2; cúp bắn súng mùa hạ 2026; Giải Chạy "Hành trình 81 năm - Vì An ninh Tổ Quốc"; Giải Đua xe đạp CLB phong trào toàn quốc năm 2026; Giải Pickleball công an nhân dân khu vực phía Nam mở rộng lần thứ nhất năm 2026; Giải Bóng chuyền bãi biển Nữ Quốc tế năm 2026; Giải Quần vợt bãi biển).
- Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử đoàn tham gia 18 giải thể thao; kết quả đạt được 108 huy chương (25 HCV, 21 HCB, 62 HCĐ), trong đó có 4 huy chương quốc tế (2 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 15/8/2026) đã tham gia 80 giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đã đạt 567 huy chương (116 HCV, 142 HCB, 309 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 13 huy chương quốc tế (05 HCV, 02 HCB, 06 HCĐ).
2. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời triển khai công tác truyền thông Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng chống ma tuý năm 2026; cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và công khai thông tin về văn phòng đại diện, cơ quan thường trú, phóng viên thường trú, phóng viên tác nghiệp của các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh và xây dựng Không gian tham vấn trực tuyến Diễn đàn tham vấn các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Triển khai hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông; triển khai xây dựng Đề án Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 11 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; tổ chức kiểm tra, rà soát cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”.
3. Giáo dục và đào tạo
Trong tháng tập trung rà soát hệ thống cơ sở vật chất chuẩn bị phục vụ năm học mới 2026-2027; tiến hành sửa chữa những hạng mục hư hỏng, xuống cấp, đảm bảo an toàn, đầy đủ nhằm phục vụ cho công tác dạy và học cho năm học mới. Hiện nay đang triển khai tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu giáo dục địa phương để đưa vào sử dụng từ năm học 2026-2027 theo quy định; phối hợp với đơn vị xuất bản triển khai thực hiện bộ sách giáo khoa thống nhất từ năm học 2026-2027 để phát hành và cung ứng kịp thời cho năm học mới.
Năm học 2026-2027, các trường trung học phổ thông (THPT) chuyên trên địa bàn tỉnh tổ chức tuyển sinh 1.294 chỉ tiêu vào lớp 10; xét tuyển trường phổ thông dân tộc nội trú 1.030 học sinh; công tác phê duyệt kết quả chỉ tiêu tuyển sinh các trường THPT 114/114 trường với số lượng 44.814/44.898 học sinh.
Hệ thống trường chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh được quan tâm xây dựng nhằm chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.011/1.431 trường mầm non và phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 70,65%), trong đó có 741/1.032 trường phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 71,8%).
4. Y tế
Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng - chống dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, bệnh dại trên người; tăng cường công tác truyền thông phòng, chống bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết và vận động tiêm chủng phòng bệnh quai bị; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.090 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 634 ca so với tháng trước (456 ca) và tăng 194 ca so với cùng kỳ năm trước (896 ca); có 01 trường hợp tử vong. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 2.715 ca mắc, tăng 173 ca so với cùng kỳ năm trước (2.542 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 137 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/7/2026 đã phát hiện xử lý 361 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ ngày 01/01- 31/7/2026, toàn tỉnh có 03 ca mắc bệnh sốt rét (không tính 01 ca của tháng 12/2025).
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 425 ca mắc, tăng 33 ca so với tháng trước và tăng 211 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 3.181 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 31 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 92 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.870 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.453 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.744 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.830 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.593 trẻ, mũi 2 cho 3.693 trẻ và mũi 3 cho 3.642 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.619 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 435 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 01 người (01 người tử vong).
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 183 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng 04 BN/100.000 dân.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 21 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 04 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.887 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.582 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 389.589 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.727 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 120.259 ngày, xét nghiệm cho 749.938 tiêu bản, chẩn đoán 304.646 hình ảnh và phẫu thuật 4.322 trường hợp. Ước 8 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 3.375.230 lượt người; 283.312 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.739.374 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,50%; xét nghiệm cho 4.880.784 tiêu bản; chẩn đoán 1.177.839 hình ảnh và phẫu thuật cho 41.377 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 106 cơ sở thực phẩm, phát hiện 16 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 109,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ngộ độc thực phẩm trong bánh mì, xã Nam Ban - Lâm Hà) làm 84 người mắc, không có tử vong. Lũy kế 8 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc, có 01 người tử vong.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tiếp tục được Nhà nước quan tâm triển khai. Cơ sở hạ tầng phục vụ đồng bào và vùng khó khăn tiếp tục được đầu tư xây dựng, qua đó từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS.
- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS.
- Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng; hệ thống cơ sở vật chất, phòng học, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS.
- Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các cơ sở khám chữa bệnh bảo đảm thường trực cấp cứu, chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, phương tiện; công tác phòng, khám chữa bệnh được triển khai đến tận vùng sâu, vùng xa phục vụ người dân.
5.2. Chính sách tôn giáo
Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật.
- Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn, xã Bảo Lâm 3; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị cơ sở tự viện trên địa bàn tỉnh; đăng ký bổ nhiệm 03 chức sắc làm trụ trì; chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh; chùa Pháp Hoa, phường Bắc Gia Nghĩa, tổ chức lễ khai mạc Khóa tu mùa hè năm 2026 với chủ đề “Lắng nghe để hiểu - Nhìn lại để thương”; Phân ban Gia đình Phật tử (Khu vực III) tổ chức Lễ khai mạc Liên trại Huấn luyện Anoma - Ni Liên- Tuyết Sơn năm 2026 tại Tịnh xá Đức Niệm, phường Nam Gia Nghĩa.
- Công giáo: Giáo phận Đà Lạt tổ chức Thánh lễ ban Bí tích và thêm sức cho các em thiếu nhi tại các Giáo xứ trong Giáo phận Đà Lạt, tổ chức “Ngày hội Giáo lý viên 2026 - Khơi dậy tinh thần người môn đệ thừa sai” tại Giáo xứ La Vang, phường 2 - Bảo Lộc; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết mời 37 người nước ngoài (01 Hồng y, 04 Linh mục, 06 Chủng sinh, 09 giới trẻ, 12 thiếu niên, 05 người hướng dẫn) đến Việt Nam tham quan một số cơ sở tôn giáo thuộc Giáo phận Phan Thiết; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 04 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, thu hút 135 người tham dự.
- Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đăng ký người được bổ nhiệm làm chức việc 03 trường hợp và đề nghị thành lập 03 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng); Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo tại phường Tiến Thành. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định.
5.3. Chính sách người có công
Trong tháng đã giải quyết 329 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; giải quyết 231 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định. Lũy kế 8 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.473 hồ sơ chế độ chính sách cho người có công với cách mạng; chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.480 người có công với tổng kinh phí 45,49 tỷ đồng. Tính đến ngày 12/8/2026, toàn tỉnh đã hoàn thành xây mới 27 căn nhà, đang xây dựng 11 nhà, hoàn thành sửa chữa 44 nhà, đang tiến hành sửa chữa 01 nhà cho các đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học.
Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh có 320.202 người tham gia BHXH, đạt 96,68% kế hoạch năm và tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước; 241.166 người tham gia BHTN, đạt 95,15% kế hoạch và tăng 8,01%; 3.144.162 người tham gia BHYT, đạt 98,15% kế hoạch và tăng 4,16%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,81% dân số.
Trong tháng 7/2026, đã giải quyết mới 11.470 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 3.004 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 300 người; trợ cấp 1 lần cho 2.813 người; chế độ ốm đau cho 6.609 người; chế độ thai sản cho 1.395 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 353 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.770 người và hỗ trợ học nghề cho 234 người). Lũy kế đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 69.931 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 13.323 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.281 người; trợ cấp 1 lần cho 16.559 người; chế độ ốm đau cho 40.658 người; chế độ thai sản cho 8.986 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.447 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 12.563 người và hỗ trợ học nghề cho 760 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/7/2026 - 14/8/2026)
Trong tháng xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, giảm 9 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 29 người, giảm 10 người so với tháng trước, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 40 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 6 người so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 452 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 115 vụ so với cùng kỳ; số người chết 291 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 298 người, giảm 143 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/7 - 24/8/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 35 căn nhà bị tốc mái, 706,8 ha cây trồng các loại bị ảnh hưởng, xói lở 60,0 mét đường, 10 cột điện bị gẫy đổ, 6,4 ha nhà kính - nhà lưới bị ảnh hưởng và hư hỏng nhiều tài sản khác; ước thiệt hại 8,3 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 48 căn nhà bị tốc mái hư hỏng, 214 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 971,5 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 52,4 ha rau màu bị ảnh hưởng nhẹ, 211,9 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia súc bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm, 15 cột điện- trụ đèn bị đổ và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 38 tỷ đồng.
- Cháy nổ: Từ ngày 16/7-15/8/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 44 vụ cháy, tăng 09 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 02 người chết và 02 người bị thương. Trong đó có 30 vụ đã được thống kê với số tiền thiệt hại gần 3 tỷ đồng, 14 vụ đang thống kê thiệt hại.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, bị xử phạt tổng số tiền là 581,5 triệu đồng, lý do xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật ra môi trường. Lũy kế 8 tháng năm 2026, xảy ra 8 vụ vi phạm, tổng số tiền bị xử phạt là 996,5 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ (8 tháng năm 2025: 18 vụ vi phạm, số tiền xử phạt 3.278 triệu đồng).
* Đánh giá chung
Nhìn chung, trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, các động lực tăng trưởng chủ yếu có chuyển biến tích cực và tương đối đồng đều giữa công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng, chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 tăng 10,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, sản phẩm nhôm thỏi góp phần bổ sung năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm.
Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải tiếp tục sôi động; lượt khách du lịch ước đạt 16,46 triệu lượt, tăng 18,98%, doanh thu du lịch tăng 22,31% so với cùng kỳ. Đầu tư công được đẩy mạnh, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng 15,43%; thu ngân sách nhà nước tăng 15,67%, bằng 69,52% kế hoạch năm.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, trong đó sản lượng thịt hơi các loại tăng 11,36%, sản lượng gỗ khai thác tăng 3,37% và sản lượng thủy sản tăng 3,47% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có sự cải thiện, tuy nhiên vẫn còn một số yếu tố cần lưu ý như dịch tả lợn Châu Phi phải tiêu hủy 22.859 con lợn; vi phạm lâm luật xảy ra 381 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha; số doanh nghiệp giải thể tăng 1,58 lần so với cùng kỳ.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an sinh, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa và thể thao tiếp tục được quan tâm, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, thiên tai còn diễn biến phức tạp; 8 tháng năm 2026 xảy ra 20 vụ thiên tai, làm 01 người chết, 04 người bị thương, ảnh hưởng gần 1.247 ha cây trồng.
Trong những tháng cuối năm, cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất mới, nhất là các dự án công nghiệp, nhanh chóng ổn định và nâng công suất; đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công; thúc đẩy thương mại, dịch vụ và du lịch; đồng thời tăng cường kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ rừng và chủ động ứng phó với thiên tai, qua đó tạo nền tảng hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026.
THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm theo file: So lieu KTXH thang 8 nam 2026.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/