TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá. Tình hình thương mại và dịch vụ trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, các ngành, lĩnh vực duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thương mại diễn ra bình thường; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng....

 

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch vụ Đông xuân và đang xuống giống vụ Hè thu; cây trồng lâu năm đang được người dân tích cực đầu tư, chăm sóc; các loại dịch bệnh trên cây trồng xảy ra không đáng kể. Chăn nuôi ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ; dịch bệnh trên vật nuôi xảy ra cục bộ tại một số địa phương và đã được kiểm soát. Hoạt động trồng rừng được triển khai; công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được tập trung tăng cường. Khai thác thủy sản tăng so với cùng kỳ.

1. Trồng trọt

1.1. Cây hàng năm

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/5/2026 ước đạt 134.789 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích lúa ước đạt 61.740 ha, tăng 2,1%; diện tích cây ngô ước đạt 11.580 ha, tăng 2,2%; diện tích cây khoai lang ước đạt 3.350 ha, tăng 3,48%; diện tích đậu các loại ước đạt 3.351 ha, tăng 2,6%; diện tích rau các loại ước đạt 37.680 ha, tăng 4,83%; diện tích hoa các loại ước đạt 5.340 ha, tăng 4,76%.

1.2. Cây lâu năm

Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh bắt đầu bước vào mùa mưa trên diện rộng, giảm chi phí tưới nước sau mùa khô kéo dài; người dân đang tiếp tục chăm sóc các loại cây trồng lâu năm và chuẩn bị đầu tư trồng mới.

- Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp;

- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tăng nhưng với tốc độ chậm do biến động về giá và chi phí đầu tư;

- Cây điều: Diện tích hiện có 45.483 ha; hiện đã hoàn tất thu hoạch năm 2026; diện tích điều chủ yếu già cỗi, giống cũ, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều, kèm theo sự bất lợi của thời tiết mưa trái mùa trong giai đoạn ra hoa và nắng nóng kéo dài, năng suất và sản lượng điều đều giảm so với năm trước. Hiện hiệu quả kinh tế của cây điều không cao, người dân đang có xu hướng chuyển sang các loại cây trồng khác như sầu riêng, cây ăn quả,...;

- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.230 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định. Diện tích trồng mới đang tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;

- Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.719 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025 - 2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) là điểm sáng của ngành hồ tiêu trên địa bàn tỉnh, giúp người dân duy trì sản xuất; tuy nhiên vấn đề sâu bệnh vẫn là rủi ro lớn gây ảnh hưởng đến phát triển của ngành hồ tiêu. Năm 2026, cây tiêu ở Lâm Đồng được đánh giá phát triển theo hướng tập trung nâng cao năng suất và chất lượng, hạn chế mở rộng diện tích tự phát; mô hình trồng tiêu xen cà phê kết hợp canh tác hữu cơ và sinh thái đang được đẩy mạnh nhằm giảm chi phí;

- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.820 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít, chi phí sản xuất tăng do nhu cầu tưới nước và xử lý hoa trái vụ; giá thanh long đang ở mức trung bình - khá, giúp người dân duy trì sản xuất. Cây thanh long đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP;

- Cây chè: Diện tích hiện có 9.200 ha; cây chè sinh trưởng và cho thu hoạch liên tục, đều đặn theo lứa, đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...;

1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất

Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; diện tích canh tác được tưới đạt 75% diện tích cần tưới (trong đó, diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt 24,5%). Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 382,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 44,5% so với dung tích thiết kế, giảm 77,4 m3 so với tháng trước.

2. Chăn nuôi

Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, liên kết sản xuất theo chuỗi, quy mô đàn các loại vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù còn chịu áp lực từ chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh, song với giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức khá đã thúc đẩy người chăn nuôi tiếp tục đầu tư, tái đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 33.517,2 tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 161.743,9 tấn, tăng 9,51%.

- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,4 nghìn con, tăng 0,46% so với cùng kỳ.

- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,0 nghìn con, tăng 1,54% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,2 nghìn con, tăng 3,61%). Chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển ổn định, các trang trại tận dụng tối đa lợi thế về khí hậu mát mẻ và diện tích đồng cỏ dồi dào; cùng với việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.496 nghìn con, tăng 5,98% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.221 nghìn con, tăng 6,86%). Giá lợn hơi trong tháng dao động theo xu hướng tăng nhẹ, giúp người chăn nuôi mạnh dạn tái đàn. Khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mô hình sản xuất khép kín, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ ổn định.

- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.720 nghìn con gia cầm, tăng 7,17% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.120 nghìn con, chiếm 70,95% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,18%). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định. Nhiều cơ sở chăn nuôi đã chú trọng áp dụng quy trình an toàn sinh học, vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng định kỳ nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh

- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Đạ Tẻh 3 phát sinh 01 cơ sở chăn nuôi có lợn mắc bệnh, đã tiêu hủy 9.081 con với tổng trọng lượng 257.811 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 11.787 con lợn mắc bệnh, tương đương 633.872 kg. Hiện nay, xã Đạ Tẻh 3 vẫn còn ổ dịch chưa qua 21 ngày theo quy định.

- Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra.

- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi (đã thực hiện phân bổ 1.500 liều vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng và 50 lít hóa chất cho xã Tánh Linh và xã Đạ Tẻh 3 để tổ chức tiêm phòng cho đàn vật nuôi).

3. Sản xuất lâm nghiệp

Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.005 ha, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 2,3 triệu cây, tăng 3,91%. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 04 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,9 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,8 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 01 vụ, diện tích rừng thiệt hại tăng 0,6 ha).

- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.425 m3, tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 190.584 m3, tăng 3,66%.

- Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.035 ste, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 149.958 ste, tăng 2,02%.

- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/4 - 10/5/2026) là 53 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 15 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,9 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 - 10/5/2026), tổng số vụ vi phạm là 240 vụ, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 105 vụ, giảm 11 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 17,5 ha, giảm 0,3 ha).

4. Thủy sản

- Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định; công tác hỗ trợ kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản được chú trọng. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 490,2 ha, tăng 2,07% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.385,6 ha, tăng 1,40% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.143,7 ha, tăng 1,27%; diện tích nuôi tôm đạt 222,1 ha, tăng 2,90%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.318,8 tấn, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 390,3 tấn, tăng 5,18%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.589,7 tấn, tăng 0,72% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.920 tấn, tăng 4,07%).

- Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 21.686 tấn, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 21.600 tấn, tăng 3,03%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 94.125,9 tấn, tăng 3,0 (sản lượng khai thác biển đạt 93.811,6 tấn, tăng 2,93%).

- Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,3 tỷ post, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,4 tỷ post, tăng 5,27%.

II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển

1. Công nghiệp

Những tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, nhiều ngành chủ lực duy trì đà phát triển ổn định. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính, cùng với sự tăng trưởng của ngành khai khoáng và các ngành hạ tầng thiết yếu như điện, nước và xử lý rác thải. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp toàn tỉnh trong tháng Năm và 5 tháng đầu năm đều đạt mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương.

1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,03% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,44% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 22,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,14%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,94%.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,81%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu

- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 394.477 m3, giảm 5,04% so với tháng trước và tăng 22,05% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu  năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.698.630 m3, tăng 20,63% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026; tháng 5 giảm so với tháng 4 là do trong tháng có kỳ nghỉ lễ 30/4-01/5/2026 được nghỉ liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/2026.

- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.511 tấn, giảm 0,77% so với tháng trước và tăng 16,62% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.941 tấn, tăng 12,49% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới.

- Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.313 tấn, tăng 32,29% so với tháng trước và tăng 13,92% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.052 tấn, tăng 18,05% so với cùng kỳ.

- Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.491 nghìn lít, tăng 7,39% so với tháng trước và tăng 25,12% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 101.409 nghìn lít, tăng 16,52% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao.

- Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 746 nghìn đôi, tăng 17,43% so với tháng trước và tăng 21,70% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.956 nghìn đôi, tăng 25,18% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm.

- Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 10.848 tấn, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 14,30% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 56.394 tấn, tăng 36,64% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026.

- Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng đạt 121,993 nghìn tấn, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 5,68% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 642,801 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ.

- Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.843 triệu kwh, tăng 17,65% so với tháng trước và tăng 11,85% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.186 triệu kwh, tăng 2,03% so với cùng kỳ.

- Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 507 triệu kwh, giảm 3,19% so với tháng trước nhưng tăng 14,37% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.525 triệu kwh tăng 7,0% so với cùng kỳ.

1.3. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,26%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,85%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,69%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%.

Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,01% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,22%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,95%.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 6,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,63%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,75%.

Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)

Trong tháng (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) đã thu hút 01 dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh (Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà; vốn đầu tư 80 tỷ, diện tích đất thuê lại 1,098 ha). Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 258,7 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 244 dự án (58 dự án FDI và 186 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư là 46.728,8 tỷ đồng và 515,132 triệu USD, diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 53,88%.

Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện đến tháng 5/2025: doanh thu đạt 10.335 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 219,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 672,2 tỷ đồng. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 6/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị là 20,41/881,6 tỷ đồng đạt 2,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, tăng 13,90% so với cùng kỳ (17,9 tỷ đồng). Cụ thể:

- KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,01/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026.

- KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,10/22,8 tỷ đồng đạt 0,44% kế hoạch năm 2026.

- KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/205,0 tỷ đồng đạt 4,88% kế hoạch năm 2026.

- KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,1/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026.

- KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,2 tỷ đồng.

- KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/473 tỷ đồng đạt 2,11% kế hoạch năm 2026.

- KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Tâm Thắng: Đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án.

- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.

2. Đầu tư phát triển

Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 860,1 tỷ đồng, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 801,6 tỷ đồng, chiếm 93,2% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn, tăng 2,52% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng đạt 368,7 tỷ đồng, tăng 34,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 110,6 tỷ đồng, giảm 49,11% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 13,2 tỷ đồng, giảm 26,03% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 303,8 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ; vốn khác 5,4 tỷ đồng, tăng 91,2% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 58,5 tỷ đồng, chiếm 6,8% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn và tăng 4,24% so với cùng kỳ.

Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.552,9 tỷ đồng, đạt 23,34% so với kế hoạch năm, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.312,8 tỷ đồng, tăng 4,06% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.539,61 tỷ đồng, tăng 21,85% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 471,03 tỷ đồng, giảm 46,54% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 53,78 tỷ đồng, giảm 28,55% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 1.227,24 tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ; vốn khác 21,14 tỷ đồng, tăng 76,82% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 240,1 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ.

Từ đầu năm đến ngày 14/5/2026, toàn tỉnh có 2.019 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2% so với cùng kỳ năm trước; 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 3,12%; 393 doanh nghiệp giải thể, tăng 88,9%; 508 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,72%. Tổng số vốn trong 5 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 9.808,4 tỷ đồng, tăng 49,53% so với cùng kỳ năm trước..

Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 22/5/2026), toàn tỉnh có 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 115.171,5 tỷ đồng; 20 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Về giải ngân vốn đầu tư công, đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh giải ngân 1.097,8 tỷ đồng, đạt 7,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả này cho thấy áp lực giải ngân trong các tháng còn lại là rất lớn.

III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải

Tình hình thương mại và dịch vụ trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, các ngành, lĩnh vực duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thương mại diễn ra bình thường; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng. Lĩnh vực lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác đã chủ động chuẩn bị nhân lực, hàng hóa và cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu du khách trong các dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 01/5 với thời gian nghỉ kéo dài. Các doanh nghiệp thương mại, du lịch và vận tải cũng tăng cường quảng bá, khuyến mãi để thu hút khách du lịch, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và dịch vụ trong mùa du lịch hè năm 2026.

1. Thương mại

1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ

Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, sức mua người dân tăng so với tháng trước, các nhóm hàng tăng trưởng ổn định. Nhu cầu người dân tập trung vào những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu cá nhân và gia đình. Tại địa phương công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường nhiều mặt, các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích thường xuyên có các chương trình khuyến mãi, giảm giá nhiều mặt hàng khuyến khích nhu cầu mua sắm của người dân.

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.791,8 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.402,5 tỷ đồng, tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.330,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 80.343,5 tỷ đồng, tăng 16,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 49.960,2 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.791,3 tỷ đồng, tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Công tác quản lý thị trường

Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát thị trường đối với mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung cầu, giá bán xăng dầu cũng được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 159 vụ, phát hiện 151 vụ vi phạm, xử lý 150 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,1 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/5/2026, đã kiểm tra 629 vụ, với 603 tổng số vụ vi phạm; 604 tổng số vụ xử lý (05 vụ kỳ trước chuyển sang, 03 vụ đoàn kiểm tra liên ngành chuyển sang) với tổng số tiền xử phạt gần 4,8 tỷ đồng.

2. Chỉ số giá tiêu dùng

          Trong tháng và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như biến động giá nhiên liệu, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,21% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI trong tháng tăng 0,76% và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 0,26%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12%. Có 04 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,16%; Thông tin và truyền thông giảm 0,17%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,2%.

* Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng

- Nguyên nhân tăng: Giá xăng tăng 1,39% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Giá nhóm lương thực tăng 0,22% so tháng trước, trong đó chủ yếu các mặt hàng gạo tăng 0,28%; nguyên nhân, do thương lái thu mua lúa giá có phần cao so tháng trước, tác động giá bán thị trường tăng theo; bên cạnh đó, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất đang ở mức cao. Giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng; đồng thời trong tháng có kỳ nghỉ Lễ 30/4-01/5 kéo dài nhiều ngày nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,56% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước.

- Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 2,92% so với tháng trước, mặc dù giá gas thế giới đi ngang ở mức 775 USD/tấn, giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh giảm 22.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 07, 14 và 21 tháng 5/2026, tính bình quân chung tháng 5/2026 chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa giảm 21,08% so với tháng trước; giá dầu diezel giảm 16,44% so với tháng trước.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2025.

* Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026

CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng thiết yếu tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm lương thực tăng 2,52%, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm; riêng giá gạo tăng 1,14% do chịu tác động từ giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp lễ, Tết. Nhóm thực phẩm tăng 4,94%, làm CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm, đáng chú ý là giá thịt lợn tăng 6,15%, thịt gia cầm tăng 4,36% do nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tiêu dùng tăng và chi phí chăn nuôi còn ở mức cao.

Nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 4,97%, làm CPI chung tăng 0,42 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, chi phí thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,99%, tác động làm CPI tăng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng như xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; giá thuê nhà ở tăng; giá gas tăng 10,38% và giá dầu hỏa tăng 39,62% theo biến động giá thế giới.

Bên cạnh đó, một số nhóm hàng, dịch vụ khác cũng tạo áp lực tăng CPI, như: đồ uống và thuốc lá tăng 3,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng, trong khi chi phí sản xuất, vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng. Nhóm giao thông tăng 5,34%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,24% và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 25,57%. Nhóm giáo dục tăng 7,20%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm, do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh tăng học phí thường niên.

Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,25%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng.

3. Hoạt động du lịch

Dịp lễ năm nay, nhờ giao thông thuận lợi, thời tiết mát mẻ và nhu cầu nghỉ dưỡng tăng cao, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Các điểm đến như Mũi Né, Phan Thiết, Tiến Thành và Đà Lạt tiếp tục được nhiều du khách lựa chọn nhờ kết hợp hài hòa giữa nghỉ dưỡng, vui chơi và trải nghiệm biển. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn như Lễ hội thả diều “Hello Sunny 2026”, Lễ hội Diều khổng lồ Sky Fest tại Bikini Beach với nhiều chương trình biểu diễn, âm nhạc và pháo hoa. Đặc khu Phú Quý cũng đưa vào hoạt động khu ẩm thực đêm phục vụ du lịch, góp phần hình thành sản phẩm du lịch đêm mới. Bên cạnh đó, ngành đường sắt đã thử nghiệm tour trải nghiệm “Hành trình đêm Đà Lạt” trên tuyến tàu cổ từ Ga Đà Lạt đến Ga Trại Mát, tạo thêm điểm nhấn thu hút du khách.

Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.115,8 nghìn lượt, tăng 4,52% so tháng trước và tăng 19,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 71,5 nghìn lượt, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.909 nghìn ngày khách, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 119 nghìn lượt khách, tăng 8,77% so với tháng trước và tăng 20,96% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 380,7 nghìn ngày khách, tăng 9,52% so với tháng trước và tăng 27,17% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 9.996,5 nghìn lượt, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 357,4 nghìn lượt, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 18.778,5 nghìn ngày khách, tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 đạt 724,8 nghìn lượt, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.311,2 nghìn ngày khách, tăng 22,41% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 5 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh.

Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 654,8 tỷ đồng, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.621,1 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 39,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 21,89% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 12.265,6 tỷ đồng, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 263,1 tỷ đồng, tăng 39,99% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.986,5 tỷ đồng, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 27.763,1 tỷ đồng, tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác

Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 712,6 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 167,7 tỷ đồng, tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 8,81% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,1 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 239,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.478,7 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 311,8 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.557,8 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 833,5 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 728,1 tỷ đồng, tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.198,3 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 6.781,9 tỷ đồng, tăng 20,78% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.492,3 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước.

5. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra sôi động nhờ nhu cầu đi lại, tham quan tăng cao trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài. Cùng với đó, thời tiết biển thuận lợi, sóng êm đã giúp các tuyến vận tải thủy nội địa, đặc biệt tuyến ra đảo Phú Quý, tăng cường tần suất hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước.

- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.815,0 nghìn HK, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 407.296,7 nghìn HK.Km, tăng 3,90% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 13.775,2 nghìn HK, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.988.465,3 nghìn HK.Km, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước.

- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.982,6 nghìn tấn, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 292.351,8 nghìn tấn.Km, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 15,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 9.909,7 nghìn tấn, tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.458.211,3 nghìn tấn.Km, tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước.

- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.012,6 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.889,6 tỷ đồng, tăng 25,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 770,6 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221,8 tỷ đồng, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước.

- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.135,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 972,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 163 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).

IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.527,2,9 tỷ đồng, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 16.300 tỷ đồng, bằng 47,34% kế hoạch năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 15.150 tỷ đồng, bằng 46,37% kế hoạch năm và tăng 15,03%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.150 tỷ đồng, bằng 65,34% kế hoạch năm và tăng 71,43% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.227 tỷ đồng (bằng 58,55% kế hoạch năm và tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 745 tỷ đồng (bằng 54% kế hoạch năm và tăng 11,4%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 4.286 tỷ đồng (bằng 64,09% kế hoạch năm và tăng 62,62%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.418 tỷ đồng (bằng 51,94% kế hoạch năm và tăng 5,6%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 1.786,2 tỷ đồng (bằng 24,22% kế hoạch năm và giảm 7,33%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 2.800 tỷ đồng (bằng 48,28% kế hoạch năm và tăng 9,51%).

2. Chi ngân sách nhà nước

Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 3.892,2 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước 20.976,6 tỷ đồng, bằng 47,15% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.046,1 tỷ đồng, bằng 68,46% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.928,2 tỷ đồng, bằng 39,29% kế hoạch năm.

3. Hoạt động tín dụng

Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,17% - 0,42%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,28% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,73% -8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 6,88% - 7,98%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.

Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 9,06%/năm - 10,84%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 4,66%/năm.

Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026,  đạt 237.889 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 8.614 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,76%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.187 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.702 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/5/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 239.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,2%.

Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026, đạt 373.244 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 2.260 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,361. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 370.659 tỷ đồng (chiếm 99,31% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.585 tỷ đồng (chiếm 0,69% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.088 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 109.156 tỷ đồng. Ước đến 31/5/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%.

Đến 30/4/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.088 tỷ đồng, chiếm 49,59% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.630 tỷ đồng, chiếm 8,74% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 155.526 tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.186 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,7% trong tổng dư nợ tín dụng.

V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao

1.1. Hoạt động văn hóa

- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano các loại, biểu trưng, cổng hơi, cờ hồng, cờ lá pano,… phục vụ công tác tuyên truyền trực quan các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) theo Công văn số 98-CV/BTGDVĐU ngày 14/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy về “Đẩy mạnh tuyên truyền Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026)”; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.

- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) và chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Lâm Đồng - Đại ngàn, hoa và biển” tại Đặc khu Phú Quý; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở để phục vụ người dân và du khách.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:

+ Bảo tàng tỉnh: Đón 29.510 lượt khách, trong đó có 1.813 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 6.074 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.706 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.183 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 13.867 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 4.680 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã đón 146.423 lượt khách, trong đó có 13.065 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 41.075 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 27.272 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.307 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 64.835 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 6.934 lượt). Ngoài ra đã tổ chức triển lãm ảnh chuyên đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử”; chương trình giáo dục trải nghiệm “Chúng em làm chiến sĩ Điện Biên” và tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề “Sắc màu di sản văn hóa, thiên nhiên và nghề thủ công truyền thống tỉnh Lâm Đồng” tại Trường THCS Nguyễn Du, xã Thuận Hạnh.

+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ tiếp đón 256 đoàn với 21.838 lượt khách (trong đó có 14 khách quốc tế); phục vụ 45 lễ viếng, lễ kết nạp Đảng, sinh hoạt chuyên đề. Luỹ kế từ ngày 01/01 - 12/5/2026 đã đón 850 đoàn với 55.246 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế); phục vụ 93 lễ viếng, 03 báo công, 05 kết nạp Đoàn, 01 kết nạp Đảng,... đồng thời tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh.

+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.310 lượt khách; luỹ kế từ ngày 01/01 - 13/5/2026 đã đón 67 đoàn với 11.290 lượt khách (có 17 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.

- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 4.848 thẻ (4.029 thẻ thiếu nhi), phục vụ 387.324 lượt bạn đọc, luân chuyển 173.873 lượt tài liệu, trưng bày 129.450 bản sách, giới thiệu trên mạng xã hội 48 bản sách mới, sưu tầm 185 tin bài tỉnh Lâm Đồng và giới thiệu 92 bản sách theo chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã cấp mới và gia hạn 5.457 thẻ (4.206 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.271.644 lượt bạn đọc, luân chuyển 374.514 lượt tài liệu, trưng bày 141.426 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả.

1.2. Hoạt động thể thao

- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); Hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải thể dục thể hình và nữ fitness vô địch các CLB tỉnh; Môn Cờ tướng - Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I năm 2026; Giải Vô địch Thể hình các Câu lạc bộ toàn quốc năm 2026.

- Thể thao thành tích cao: Trong tháng tổ chức Giải Quần vợt quốc tế NovaWorld Phan Thiet U16 ATF Tennis Classic và UTR Pro Tennis Tour năm 2026; Giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 và cử đoàn vận động viên tham gia 12 giải thể thao quốc gia, kết quả đạt được 155 huy chương (20 HCV, 45 HCB, 90 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026, đã đạt được 222 huy chương (35 HCV, 58 HCB, 129 HCĐ).

2. Giáo dục và đào tạo

Trong tháng, các cơ sở giáo dục tập trung tổ chức dạy và học, ôn thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 theo kế hoạch; tiếp tục thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, các loại tội phạm; đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp” trong các cơ sở giáo dục và đẩy mạnh công tác chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy.

Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên.

Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên.

Tính đến thời điểm 14/5/2026, toàn tỉnh có 931/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 64,92%); trong đó cấp mầm non 247/400 trường (đạt tỷ lệ 61.75%), cấp tiểu học 355/557 trường (đạt tỷ lệ 63,73%), cấp trung học cơ sở 256/363 trường (đạt tỷ lệ 70,52%) và cấp trung học phổ thông 73/114 trường (đạt tỷ lệ 64,04%).

Hiện nay tỉnh tập trung rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi. Kỳ thi năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; số phòng thi dự kiến: 1.845 phòng; số lượng thí sinh dự kiến đăng ký: 41.309 thí sinh (trong đó thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX: 39.594 thí sinh; thí sinh tự do: 1.715 thí sinh).

3. Y tế

Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đồng thời đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.

- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 164 ca mắc sốt xuất huyết mới, bằng so với tháng trước và giảm 35 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong, phát hiện và xử lý 26 ổ dịch. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.600 ca mắc và phát hiện xử lý 125 ổ dịch.

- Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét.

- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 749 ca mắc, tăng 296 ca so với tháng trước và tăng 535 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.080 ca mắc.

- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, giảm 06 ca so với tháng trước và giảm 716 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 53 ca mắc.

- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.673 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.201 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.289 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.907 trẻ, mũi 2 cho 3.900 trẻ và mũi 3 cho 4.445 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.722 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.

- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong).

- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 163 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân lao mới các thể/dân số là 04  bệnh nhân/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03  bệnh nhân/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 04 bệnh nhân .

- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 05 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.818 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.789 người, tử vong 1.574 người.

- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 473.726 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.342 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 234.326 ngày, xét nghiệm cho 671.773 tiêu bản, chẩn đoán 145.500 hình ảnh và phẫu thuật 5.528 trường hợp. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.161.490 lượt người; 171.671 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.035.416 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,27 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,0%; ước xét nghiệm cho 2.593.528 tiêu bản; chẩn đoán 627.601 hình ảnh và phẫu thuật cho 24.561 trường hợp.

- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 44 cơ sở (trong đó 05 bếp ăn tập thể và bếp ăn trường học, cả 05 cơ sở đều đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm), kết quả có 8 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 52,5 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.

4. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công

4.1. Chính sách dân tộc

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Hiện nay, do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS.

- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các hoạt động thể thao truyền thống, trò chơi dân gian, hoạt động vui chơi giải trí được quan tâm tổ chức; công tác quảng bá các sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương gắn liền với bản sắc văn hóa vùng đồng bào DTTS được triển khai thông qua các chương trình kích cầu du lịch hè 2026, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS.

- Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng. Hiện nay, các trường học vùng đồng bào DTTS của tỉnh tập trung vào tổ chức kỳ thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 và chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho học sinh vùng đồng bào DTTS.

- Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Trong tháng, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT tỉnh Lâm Đồng năm 2026; trong đó, trọng tâm là tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân, BHYT hộ gia đình, tỷ lệ tham gia BHXH, BHXH tự nguyện năm 2026 và xây dựng chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho đồng bào người DTTS đang sinh sống tại địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.

4.2. Chính sách tôn giáo

Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng ban hành Kế hoạch hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật đản năm 2026 và tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niện Đại lễ Phật đản năm 2026, qua đó phần lan tỏa giá trị hòa bình, nhân ái, hướng thiện và gắn kết cộng đồng; tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho 52 chư Ni hệ phái khất sỹ tại Tịnh xá Ngọc Cảnh, phường Xuân Hương - Đà Lạt; Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh, thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại Huấn luyện Huynh trưởng cấp II - Huyền Trang 1-2026 tại Chùa Linh Quang, đặc khu Phú Quý, có khoảng 120 trại sinh tham dự.

Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức hoạt động tôn giáo theo kế hoạch. Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn - Tỉnh dòng Việt Nam, phường Xuân Hương- Đà Lạt tổ chức Thánh lễ bế mạc năm Thánh và kỷ niệm 400 năm thành lập Tu hội, 70 năm Tu hội hiện diện tại Việt Nam, có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài tỉnh tham dự; Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức Thánh lễ tạ ơn thành lập Giáo xứ Hòa Thuận, xã Quảng Tín và bổ nhiệm linh mục quản xứ tiên khởi, có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt, Giáo phận Phan Thiết và Giáo phận Ban Mê Thuột tham gia cùng Phái đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam (gồm 37 chức sắc, chức việc) hoạt động tôn giáo tại Toà Thánh Vatican; các Giáo xứ thuộc các Giáo phận trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tổ chức Thánh lễ, dâng hoa, rước kiệu mừng kính Đức Mẹ Maria trong chuỗi sự kiện của Tháng Hoa năm 2026. Ban Đại điện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ ra mắt công nhận Chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) xã Ka Đô và xã Tà Hine, có khoảng 1.600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự; tổ chức huấn luyện chấp sự, đặc trách các điểm nhóm, tại Chi hội Tin Lành Liên Nghĩa, xã Đức Trọng và Chi hội Tin Lành Bảo Lộc, phường 1 Bảo Lộc, có khoảng 1.000 người tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định.

4.3. Chính sách người có công

Trong tháng đã giải quyết 402 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Tổ chức thăm, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước; đồng thời tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng.

Từ đầu năm đến nay đã giải quyết 1.551 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.802 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 người (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa). Tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người. Phê duyệt Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng.

5. Hoạt động bảo hiểm

Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết ngày 30/4/2026, toàn tỉnh có 314.472 người tham gia BHXH, tăng 0,75% so với tháng trước; có 238.238 người tham gia BHTN, tăng 0,4%; 3.074.232 người tham gia BHYT, tăng 0,87% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 90,75% dân số.

Trong tháng đã giải quyết mới 10.708 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.682 người (trong đó: 120 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 2.555 người hưởng trợ cấp 1 lần; 6.500 người hưởng chế độ ốm đau; 1.193 người hưởng chế độ thai sản; 340 người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 1.592 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và 90 người được hỗ trợ học nghề). Lũy kế đến ngày 30/4/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 36.354 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 5.084 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 522 người; trợ cấp 1 lần cho 8.531 người; chế độ ốm đau cho 21.141 người; chế độ thai sản cho 4.833 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.327 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 4.861 người và hỗ trợ học nghề cho 223 người). 

6. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/4 - 14/5/2026)

Trong tháng xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, giảm 13 vụ so với tháng trước  và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 27 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 18 người, giảm 19 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 291 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 78 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 183 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 189 người, giảm 107 người so với cùng kỳ năm trước.

7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường

- Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 23/4 - 25/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo giông lốc, sét xảy ra tại xã Đạ Huoai 2, xã Hàm Kiệm, xã Đạ Huoai 2, xã Nâm Nung và xã Cát Tiên 3. Thiên tai đã làm cuốn trôi và mất tích 01 người, 09 căn nhà bị tốc mái (01 nhà bị tốc mái hoàn toàn), 35 ha cây sầu riêng, sét đánh làm cháy hệ thống điện làm chết khoảng 70.000 con gà của Công ty TaFa Việt, xã Trà Tân; ước thiệt hại khoảng 17,25 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 28/12/2025 đến nay xảy ra 08 vụ thiên tai, làm tốc mái 26 căn nhà (03 nhà bị sập tốc mái hoàn toàn) và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 17,90 tỷ đồng.

- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/4 - 15/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và bằng với số vụ của cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 37 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 03 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 2.819 triệu đồng.

- Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra vi phạm (cùng kỳ năm trước xảy ra 03 vụ vi phạm và xử phạt 585 triệu đồng). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng.

* Đánh giá chung

Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 3,2% so với cùng kỳ; chăn nuôi tiếp tục phát triển, tổng sản lượng thịt hơi 5 tháng tăng 9,51%; khai thác thủy sản duy trì. Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,04%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương.

Khu vực thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng tăng 16,17% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 20,01%. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh, toàn tỉnh đón gần 10 triệu lượt khách, tăng 19,54%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,06%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng trưởng khá, doanh thu 5 tháng tăng 22,96%, phản ánh nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và hoạt động du lịch tiếp tục sôi động.

Hoạt động đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư có chuyển biến tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2%; số doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15,72%; thu hút 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký 115.171,5 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bằng 47,34% dự toán năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ.

Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phù hợp với nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành chương trình năm học, chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. Công tác y tế, phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh tiếp tục được triển khai. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, người có công và bảo hiểm xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 90,75% dân số.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp so với yêu cầu, trong khi khối lượng vốn còn lại phải thực hiện trong các tháng cuối năm rất lớn. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng tăng 4,47%, trong đó nhiều nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục tăng, tạo áp lực nhất định đến chi phí sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Hoạt động doanh nghiệp tuy có tín hiệu tích cực về số doanh nghiệp thành lập mới, nhưng có 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động và 393 doanh nghiệp giải thể. Trong nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục là yếu tố rủi ro cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ để hạn chế lây lan, bảo đảm ổn định sản xuất chăn nuôi. Một số vấn đề xã hội như dịch bệnh ở người, tai nạn giao thông, thiên tai, giông lốc, sét, thiếu nước tưới cục bộ trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và an sinh xã hội.

THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

 

 

 

 

Kèm file: So lieu KTXH_thang_05_nam_2026.pdf




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/