TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng

Hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định; công nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực; Du lịch ghi nhận sự khởi sắc rõ rệt nhờ nhiều sự kiện hấp dẫn, góp phần thúc đẩy lượng khách và doanh thu tăng so với tháng trước và cùng kỳ...

 

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực thu hoạch cho vụ Đông xuân và xuống giống cho vụ Hè thu. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước do giá nhiên liệu cao, một số đội tàu khai thác xa bờ tạm dừng khai thác.

1. Trồng trọt

1.1. Cây hàng năm

Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/4/2026 ước đạt 116.049 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 57.690 ha, tăng 2% (diện tích lúa tăng chủ yếu ở các xã Đức Linh, xã Tánh Linh xuống giống sớm trong vụ Hè thu); cây ngô, diện tích ước đạt 6.280 ha, tăng 2,36%; rau các loại, diện tích ước đạt 32.380 ha, tăng 4,85%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.900 ha, tăng 4,90%; đậu các loại, diện tích ước đạt 2.910 ha, tăng 2,16%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 11.889 ha, tăng 4,13%.

1.2. Cây lâu năm

Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung đầu tư, chăm sóc các loại cây trồng lâu năm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện mưa cục bộ một số nơi, lượng nước mùa khô cơ bản đủ cung cấp cho cây trồng.

- Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; cây đang trong giai đoạn đậu quả, người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp;

- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện;

- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.224 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;

- Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.760 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) đã góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất;

- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.802 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít; người dân đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP;

- Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha; giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh; tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...;

- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.217 ha; những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích.

1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất

Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện là 99.242 ha, đạt 22,8% diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới. Chuẩn bị bước vào mùa mưa công tác phòng, chống thiên tai được chủ động triển khai, rà soát, cập nhật phương án phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý an toàn công trình thủy lợi, hồ đập.

1.4. Tình hình dịch bệnh

Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 80 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại 377 ha, chuột gây hại 290 ha, rầy nâu gây hại 249 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại giảm 142 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại giảm 167 ha, chuột gây hại giảm 73 ha, rầy nâu gây hại tăng 109 ha); Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.796 ha (tăng 35 ha so với tháng trước); Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.661 ha (tăng 771 ha so với tháng trước); Bọ xít muỗi gây hại 1.585 ha cà phê chè (giảm 581 ha so với tháng trước); Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha (tăng 680 ha so với tháng trước), bệnh thán thư gây hại 2.919 ha (giảm 176 ha so với tháng trước); Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 92 ha (tăng 27 ha so với tháng trước); Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 527 ha (giảm 95 ha so với tháng trước); bệnh thối rễ tóp cành gây hại 119 ha (giảm 03 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 137 ha (tăng 24 ha so với tháng trước);

2. Chăn nuôi

Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển ổn định; quy mô đàn các loại vật nuôi đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn do giá thức ăn tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 34.998 tấn, tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 128.226,7tấn, tăng 10,47%.

- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,8 nghìn con, tăng 0,45% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ cho thấy sự ổn định của loại vật nuôi này trong điều kiện hiệu quả kinh tế chưa thật sự nổi trội. Người dân chủ yếu duy trì quy mô đàn để phục vụ nhu cầu sản nuất nông nghiệp và cung cấp thịt tại chỗ.

- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,5 nghìn con, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,81%). Quy mô đàn bò được duy trì mức tăng bền vững nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.

- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.498 nghìn con, tăng 6,09% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.225 nghìn con, tăng 7,19%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu từ khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp, với xu hướng mở rộng quy mô, đầu tư bài bản và liên kết sản xuất theo chuỗi. Công tác kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn.

- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.600 nghìn con gia cầm, tăng 7,11% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 71,68% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,88%). Với ưu thế thời gian nuôi ngắn, chi phí đầu tư linh hoạt và khả năng quay vòng vốn nhanh, chăn nuôi gia cầm tiếp tục là lựa chọn phù hợp của nhiều hộ dân và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng duy trì ổn định.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh

- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại phường Bắc Gia Nghĩa, xã Đạ Tẻh 3, xã Đạ Hoai phát sinh 03 hộ có lợn mắc bệnh và chưa qua 21 ngày, với số lợn bị tiêu hủy 1.132 con. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 2.231 con.

- Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra.

- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi.

3. Sản xuất lâm nghiệp

Trong tháng, hoạt động trồng rừng chưa được triển khai, chủ yếu tập trung chăm sóc rừng, chuẩn bị mặt bằng, ươm giống cây trồng. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng giảm 03 vụ, diện tích rừng thiệt hại giảm 0,3 ha).

- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.094 m3, tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 147.159 m3, tăng 3,26%.

- Sản lượng củi khai thác ước đạt 26.464 ste, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 119.923 ste, tăng 1,97%.

- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/3 - 10/4/2026) là 48 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 30 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 18 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,6 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/4/2026), tổng số vụ vi phạm là 187 vụ bằng cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 79 vụ, giảm 26 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 13,5 ha, giảm 1,6 ha).

4. Thủy sản

- Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 467,9 ha, tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.895,4 ha, tăng 1,17% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.703,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 175 ha, tăng 1,93%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.315 tấn, tăng 0,80% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 380 tấn, tăng 4,08%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.270,9 tấn, tăng 1,0% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.530 tấn, tăng 3,79%).

- Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền khai thác quyết tâm bám biển khai thác dù giá dầu tăng cao; đặc biệt nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 18.670 tấn, giảm 1,31% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 18.590 tấn, giảm 1,48%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 72.354,7 tấn, tăng 2,82 (sản lượng khai thác biển đạt 71.711,8 tấn, tăng 2,18%).

- Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,1 tỷ post, tăng 4,11%.

II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển

1. Công nghiệp

Những tháng đầu năm ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 12,90% so với tháng trước, tính chung 4 tháng đầu năm 2026 tăng 8,07% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%.

1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,90% so với tháng trước và tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,72%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,53%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,40%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,93%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,71%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu

- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 415.415 m3, tăng 8,40% so với tháng trước và tăng 8,31% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.306.321 m3, tăng 17,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026.

- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.520 tấn, giảm 5,49% so với tháng trước nhưng tăng 8,17% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.486 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ.

- Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 1.835 tấn, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,11% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.827 tấn, tăng 23,90% so với cùng kỳ.

- Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 22.440 nghìn lít, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,75% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 86.208 nghìn lít, tăng 16,11% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao.

- Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 646 nghìn đôi, tăng 7,52% so với tháng trước và tăng 20,06% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.220 nghìn đôi, tăng 27,02% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng mới ngay từ các tháng đầu năm.

- Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 11.095 tấn giảm 20,84% so với tháng trước nhưng tăng 40,71% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 46.123 tấn, tăng 50,92% so với cùng kỳ, nguyên nhân trong tháng giảm do ảnh hưởng của giá xăng dầu nên các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp đã chủ động cho kế hoạch cả năm 2026.

- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 126,5 nghìn tấn, tăng 9,13% so với tháng trước và tăng 3,85% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 528,313 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ.

- Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.649 triệu kwh, tăng 19,64% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 11.420 triệu kwh, tăng 2,69% so với cùng kỳ.

- Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 505 triệu kwh, giảm 4,68% so với tháng trước nhưng tăng 4,76% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.001 triệu kwh tăng 5,62% so với cùng kỳ.

1.3. Chỉ số sử dụng lao động

Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 8,74% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,75%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,13%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,09%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,02%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47%.

Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới.

1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)

Hiện nay trong các KCN có khoảng 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Lũy kế đến hết tháng 3/2026, doanh thu đạt 9.300 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 171,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 551 tỷ đồng.

Đầu năm đến nay thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 01 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 178,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Cụ thể:

- Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn.

- Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam (vốn 26 tỷ, diện tích 0,3128 ha) tại KCN Lộc Sơn.

- Kho Transimex Phú Hội của Công ty cổ phần Transimex Logistics (vốn 98,658 tỷ, diện tích 1,29 ha).

- Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV nhựa Stroman Lâm Đồng (vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha) tại KCN Phú Hội.

- Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm (vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha) tại KCN Phú Hội.

Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,82 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,258% so với cùng kỳ (43,82 tỷ đồng), gồm: KCN Phan Thiết giai đoạn 1; KCN Hàm Kiệm I; KCN Hàm Kiệm II; KCN Sông Bình; KCN Tân Đức. Tình hình thu hút dự án đến nay:

- KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước.

- KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài).

- KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước).

- KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án.

- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.

2. Đầu tư phát triển

Trong tháng, tình hình thực hiện vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh ghi nhận sự chuyển động tích cực với mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các tuyến giao thông kết nối vùng. Tỉnh tập trung cao độ các nguồn lực để triển khai đồng loạt các dự án trọng điểm và khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho 43 dự án khởi công mới trong năm. Tuy nhiên, công tác thực hiện các dự án chưa đạt kỳ vọng do vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng và sự chồng lấn quy hoạch khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, áp lực từ việc tăng giá nhiên liệu cùng tình trạng khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng tại chỗ đã gây ra những trở ngại lớn cho năng lực thực thi của các đơn vị thi công.

Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 769,9 tỷ đồng, tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 718,1 tỷ đồng, chiếm 93,27% và tăng 3,21% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 331,7 tỷ đồng, tăng 33,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 102,6 tỷ đồng, giảm 45,5% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 11,2 tỷ đồng, giảm 31,91% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 267,8 tỷ đồng, tăng 11,91% so với cùng kỳ; vốn khác 4,8 tỷ đồng, tăng 86,1% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 51,8 tỷ đồng, chiếm 6,73% tăng 1,8% so với cùng kỳ.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.680,6 tỷ đồng, đạt 17,61% so với kế hoạch năm, tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.500,4 tỷ đồng, tăng 4,12% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.166,2 tỷ đồng, tăng 17,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 358,6 tỷ đồng, giảm 45,98% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 40,6 tỷ đồng, giảm 29,4% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 919,4 tỷ đồng, tăng 34,67% so với cùng kỳ; vốn khác 15,7 tỷ đồng, tăng 71,89% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 180,2 tỷ đồng, tăng 3,06% so với cùng kỳ.

Tình hình phát triển doanh nghiệp tính từ ngày 01/01/2026 đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh có 1.715 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; 1.004 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 4,74%; 332 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,1 lần; 474 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,3%. Tổng số vốn trong 4 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 8.731,2 tỷ đồng, tăng 56,61% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 23/4/2026), toàn tỉnh có 18 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 55.281,1 tỷ đồng; 18 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải

Trong tháng, hoạt động thương mại của tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định với sức mua tăng trưởng tích cực, đặc biệt trong các dịp lễ và cuối tuần. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; mặt bằng giá cả tuy chịu tác động từ biến động giá xăng dầu nhưng vẫn được kiểm soát, không xảy ra tăng giá đột biến. Du lịch ghi nhận sự khởi sắc rõ rệt nhờ nhiều sự kiện hấp dẫn, góp phần thúc đẩy lượng khách và doanh thu tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Các ngành dịch vụ như ăn uống, vận tải tiếp tục hoạt động hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Hoạt động vận tải và kho bãi duy trì ổn định, đảm bảo lưu thông hàng hóa và phục vụ nhu cầu đi lại, góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương.

1. Thương mại

1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ

Thị trường hàng hóa trong tháng tiếp tục đà tăng trưởng. Nhu cầu tiêu dùng từ người dân và du khách tăng cao, đặc biệt trong dịp lễ, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, thủy hải sản,... Các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy và bán lẻ địa phương đã góp phần quan trọng bình ổn thị trường và kích cầu hiệu quả qua các chương trình khuyến mãi. Hoạt động các ngành dịch vụ khác diễn ra khá nhộn nhịp, đặc biệt là hoạt động du lịch, vui chơi giải trí trong dịp lễ sắp đến.

Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.414,2 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.409,6 tỷ đồng, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 18,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.121,8 tỷ đồng, tăng 13,19% so với tháng trước và tăng 14,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 63.725,4 tỷ đồng, tăng 15,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 39.837,8 tỷ đồng, tăng 14,46% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 12.510 tỷ đồng, tăng 20,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Công tác quản lý thị trường

Quản lý thị trường đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời siết chặt giám sát đối với mặt hàng gạo và vật liệu xây dựng. Công tác đấu tranh chống hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, song song với việc theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả xăng dầu để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý hay gián đoạn nguồn cung. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ 15/12/2025 đến 14/4/2026: đã kiểm tra 470 vụ, phát hiện 452 vụ vi phạm và xử lý 454 vụ, tổng số tiền xử phạt đạt 3,65 tỷ đồng; trị giá hàng hóa vi phạm hơn 863,6 triệu đồng.

2. Chỉ số giá tiêu dùng

Giá gas, giá dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng, là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,56% so với tháng trước, CPI trong tháng tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,40%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,50%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,69%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,44%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Thông tin và truyền thông tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,04%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giao thông giảm 0,8%.

* Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng

- Nguyên nhân tăng: Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 03, 08, 09, 16, 21 và 23 tháng 4/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa tăng 26,54% so với tháng trước; giá dầu diezel tăng 18,35% so với tháng trước; Giá gas trong tháng tăng 48,86% so với tháng trước do từ ngày 01/4/2026, giá gas 12 ký trong nước điều chỉnh tăng 95.000 đồng/bình sau khi giá gas thế giới tăng 232,5 USD/tấn (từ mức 537,5 USD/tấn lên mức 770 USD/tấn); Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 3,26% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước.

- Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 0,7% so tháng trước, do một số loại rau đang vào vụ thu hoạch và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại; Giá nhóm lương thực giảm 0,33% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo giảm 0,51%. Nguyên nhân, do nguồn cung được đảm bảo vì một số khu vực đang trong kỳ thu hoạch lúa vụ đông xuân. Đồng thời ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng; Nguồn cung sản lượng gia cầm, trứng các loại tại địa phương dồi dào tác động làm cho giá các loại thịt gia cầm tươi sống giảm 2,08%, giá trứng các loại giảm 1,84% so với tháng trước; Giá các loại quả tươi giảm 2,70% so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất giá xoài các loại giảm 8,01%; quả có múi giảm 1,70%; chuối giảm 2,27%; quả tươi khác giảm 2,57%. Nguyên nhân, hiện nay một số loại trái cây đang vào mùa vụ thu hoạch nguồn cung nhiều, nhu cầu tiêu dùng giảm tác động giá bán thị trường có phần giảm so tháng trước; Giá xăng giảm 3,93% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với bình quân cùng kỳ năm 2025.

* Nguyên nhân tăng/giảm CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026

- Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 4 tháng đầu năm 2026 tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,40 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 7,96%; giá thịt gia cầm tăng 5,39, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao. Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm, do giá lương thực thực phẩm đang ở mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,57% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá thuê nhà ở tăng cao. Chỉ số giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá dầu hỏa tăng 32,03% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới. Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,46%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,28% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,51%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất, vận chuyển tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 3,79% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,43 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 5,63%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 22,26% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,19%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên.

- Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian.

3. Hoạt động du lịch

Trong tháng có các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ 30/4 và 1/5. Trên địa bàn tỉnh diễn ra các sự kiện như Giải vô địch các đội mạnh Lân - Sư - Rồng quốc gia năm 2026; Giải đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 “Non sông liền một dải”. Bên cạnh đó hưởng ứng chương trình kích cầu du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2026, các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đăng ký tham gia chương trình với nhiều gói khuyến mãi, giảm giá, dịch vụ tặng kèm quà tặng hấp dẫn dành cho nhiều đối tượng khách lựa chọn Lâm Đồng cho chuyến tham quan và nghỉ dưỡng trong thời gian tới. Hầu hết các cơ sở lưu trú đăng ký tham gia đều giảm giá trung bình từ 10 - 30% tập trung vào mùa du lịch hè sắp tới, kèm theo nhiều ưu đãi như miễn phí các dịch vụ, tham gia các hoạt động văn hóa - thể thao do cơ sở tổ chức phục vụ khách, quà tặng lưu niệm, xe đưa đón miễn phí, hướng dẫn tham quan các địa điểm du lịch nổi tiếng. Đặc biệt, là các gói khuyến mãi “đặt ăn” có nhiều quà tặng hấp dẫn và các chương trình nghệ thuật đặc sắc miễn phí.

Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.080 nghìn lượt, tăng 14,85% so tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 75 nghìn lượt, tăng 18,2% so với tháng trước và tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.886 nghìn ngày khách, tăng 13,52% so với tháng trước và tăng 26,97% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 135 nghìn lượt khách, giảm 8,78% so với tháng trước và tăng 34,64% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 436 nghìn ngày khách, giảm 10,05% so với tháng trước và tăng 41,76% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách phục vụ đạt 7.936,4 nghìn lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 290,8 nghìn lượt, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 15.004,6 nghìn ngày khách, tăng 22,69% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đạt 631,3 nghìn lượt, tăng 23,33% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.018,8 nghìn ngày khách, tăng 27,07% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 4 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh....

Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 617,9 tỷ đồng, tăng 15,33% so với tháng trước và tăng 14,13% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.449,1 tỷ đồng, tăng 12,94% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 1,93% so với tháng trước và tăng 51,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.610,2 tỷ đồng, tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 9.688,8 tỷ đồng, tăng 19,67% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 211 tỷ đồng, tăng 41,81% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.891,3 tỷ đồng, tăng 17,58% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 21.907,7 tỷ đồng, tăng 25,05% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác

Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 702,5 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 4,79% so với tháng trước và tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 17,69% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 254,8 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 22,47% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.305,7 tỷ đồng, tăng 4,25% so với tháng trước và tăng 22,06% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 302,4 tỷ đồng, tăng 1,90% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.849,4 tỷ đồng, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 667,6 tỷ đồng, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 579,4 tỷ đồng, tăng 16,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 974,3 tỷ đồng, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 5.127,9 tỷ đồng, tăng 13,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.179 tỷ đồng, tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước.

5. Hoạt động vận tải

Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra khá nhộn nhịp, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch và tiêu dùng tăng cao của người dân trong chuỗi nghỉ lễ kéo dài (Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch, 30/4 và 1/5) đã thúc đẩy lưu lượng giao thông và vận chuyển hàng hóa phục vụ lễ hội diễn ra sôi nổi. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước.

- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.703 nghìn HK, tăng 5,39% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 392.145,3 nghìn HK.Km, tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 10.950,7 nghìn HK, tăng 16,39% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.581.298,9 nghìn HK.Km, tăng 17,35% so với cùng kỳ năm trước.

- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.956 nghìn tấn, tăng 4,78% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 288.878,2 nghìn tấn.Km, tăng 5,27% so với tháng trước và tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 7.950,5 nghìn tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.170.264,9 nghìn tấn.Km, tăng 15,07% so với cùng kỳ năm trước.

- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.594,3 tỷ đồng, tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.306,9 tỷ đồng, tăng 25,12% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 614,6 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 183,6 tỷ đồng, tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước.

- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 857,5 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 725,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 132,4 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).

IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu ngân sách nhà nước

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.090,9 tỷ đồng, giảm 20,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 13.268,1 tỷ đồng, bằng 38,53% kế hoạch năm và tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 12.480 tỷ đồng, bằng 38,19% kế hoạch năm và tăng 14,39%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 788,1 tỷ đồng, bằng 44,78% kế hoạch năm và tăng 58,81% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.022,7 tỷ đồng (bằng 53,18% kế hoạch năm và tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 607 tỷ đồng (bằng 44% kế hoạch năm và tăng 1,34%);[T1]  khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 3.435,5 tỷ đồng (bằng 51,37% kế hoạch năm và tăng 51,65%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.137 tỷ đồng (bằng 41,65% kế hoạch năm và tăng 3,78%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.359,3 tỷ đồng (bằng 18,43% kế hoạch năm và giảm 1,38%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.503 tỷ đồng (bằng 43,16% kế hoạch năm và tăng 7,31%).

2. Chi ngân sách Nhà nước

Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.707,2 tỷ đồng, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước 20.877 tỷ đồng, bằng 46,93% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.160,3 tỷ đồng, bằng 69,33% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.716,1 tỷ đồng, bằng 38,59% kế hoạch năm.

3. Hoạt động tín dụng

Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,21% - 0,41%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,17% - 4,65%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,67% -7,64%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 7,02% - 7,79%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.

Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 8,89%/năm - 10,73%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,65%/năm.

Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026,  đạt 236.394 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.188 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,11%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.275 tỷ đồng (chiếm 98,68% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.119 tỷ đồng, (chiếm 1,32% tổng huy động vốn). Ước đến 30/4/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 238.400 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.124 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4%.

Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 372.289 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 1.305 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,35%. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 369.935 tỷ đồng (chiếm 99,37% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.354 tỷ đồng (chiếm 0,63% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.156 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 108.133 tỷ đồng. Ước đến 30/4/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%.

Đến 31/3/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.497 tỷ đồng, chiếm 50,09% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.013 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 153.779 tỷ đồng, chiếm 41,31% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.945 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,87% trong tổng dư nợ tín dụng.

V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao

1.1. Hoạt động văn hóa

- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện trang trí pano cổ động trực quan tuyên truyền tấm lớn, pano bảng, tiêu đề, pano xe loa, biểu trưng,… phục vụ công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026), Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng và thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn (đợt 2).

- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026 tại 03 khu vực (Đền thờ Âu Lạc tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt; xã Phan Rí Cửa và xã Tuy Đức); tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; chương trình văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước; duy trì biểu diễn chương trình Âm nhạc đường phố tại khu vực Hồ Xuân Hương phục vụ nhân dân, du khách; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở và 05 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị khác.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:

+ Bảo tàng tỉnh: Đón 41.627 lượt khách, trong đó có 2.329 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 12.935 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 10.204 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 1.851 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 15.948 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 689 lượt khách); lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 13/4/2026, Bảo tàng tỉnh đã đón 116.913 lượt khách, trong đó có 11.252 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 35.001 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 23.566 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 5.124 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 50.968 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 2.254 lượt khách). Tổ chức khảo sát, thu thập tư liệu phục vụ công tác lập hồ sơ khoa học “Nghề làm nước mắm truyền thống Phan Thiết” trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xem xét đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; xây dựng Hồ sơ hiện vật Linga - Yoni Mường Mán và Linga thạch anh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia.

+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 147 đoàn với 11.504 lượt khách; phục vụ 32 lễ viếng Bác, lễ kết nạp Đoàn, sinh hoạt chuyên đề; lũy kế từ 01/01 đến 13/4/2026, Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận đón 517 đoàn 28.009 lượt khách. Ngoài ra, đã tổ chức trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc” tại Khu Di tích Dục Thanh phục vụ người dân và du khách.

+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.316 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 15/4/2026 đã đón 45 đoàn với 7.980 lượt khách. Ngoài ra, đã thực hiện triển lãm ảnh chủ đề “Lâm Đồng gắn kết lịch sử - Khát vọng vươn xa” và phối hợp tổ chức Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ nhất, thu hút đông đảo vận động viên tham gia.

- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 174 thẻ (49 thẻ thiếu nhi), phục vụ 268.325 lượt bạn đọc, luân chuyển 118.637 lượt tài liệu và trưng bày 3.876 bản sách; lũy kế từ 01/01 đến 10/4/2026, Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 609 thẻ (thiếu nhi 177 thẻ), phục vụ 884.320 lượt bạn đọc, luân chuyển 200.641 lượt tài liệu và trưng bày 17.976 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra, đã tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ V năm 2026; trưng bày, triển lãm và giới thiệu sách với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”; tọa đàm chuyên đề “Sáng tạo từ bản sắc: Đưa di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương vào trang sách của trẻ em” tại trường THCS Nguyễn Du, phường Phan Thiết và tổ chức chương trình bồi dưỡng “Kỹ năng siêu đọc sách - Giải tỏa áp lực học đường”.

1.2. Hoạt động thể thao

- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Thể dục dưỡng sinh tỉnh Lâm Đồng mở rộng lần thứ VI - năm 2026; Giải Xe đạp Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Giải Golf Audi by Cội nguồn 2026 và Giải Yoga Cúp các câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026.

- Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam nữ hỗn hợp quốc gia 2026; Giải Vô địch các đội mạnh Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ II năm 2026. Tổ chức Giải Pickleball, Giải Golf, Giải Xe đạp trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Phối hợp tổ chức Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 (trên Sân vận động Đà Lạt). Cử đoàn vận động viên tham gia 11 giải thể thao quốc gia và 1 giải thể thao quốc tế, kết quả đạt được 38 huy chương (06 HCV, 11 HCB, 21 HCĐ); thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (14/4/2026): 67 huy chương (15 HCV, 16 HCB, 36 HCĐ).

2. Giáo dục và đào tạo

Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026. Thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn phòng, chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp”; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục và phát triển trường ngoài công lập. Bên cạnh đó tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiệt bị, đội ngũ nhà giáo để ổn định công tác dạy và học.

Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên.

Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên.

Công tác đánh giá, kiểm định chất lượng và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng. Tính đến thời điểm 31/3/2026, toàn tỉnh có 912/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 63,60%); trong đó: cấp mầm non có 246/400 trường (đạt tỷ lệ 61.50%), cấp tiểu học có 342/557 trường (đạt tỷ lệ 61,40%), cấp trung học cơ sở có 253/363 trường (đạt tỷ lệ 69,70%) và cấp trung học phổ thông có 71/114 trường (đạt tỷ lệ 62,28%).

3. Y tế

Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.

- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 162 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 37 ca so với tháng trước và giảm 23 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.436 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 33 ổ dịch, bốn tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 99 ổ dịch.

- Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét.

- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 453 ca mắc, tăng 228 ca so với tháng trước và tăng 347 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 1.331 ca mắc.

- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 16 ca mắc, tăng 02 ca so với tháng trước và giảm 973 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 43 ca mắc.

- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.261 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.527 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.323 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.390 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.269 trẻ, mũi 2 cho 4.349 trẻ và mũi 3 cho 4.562 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.749 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.

- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 02 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 02 bệnh nhân; đang giám sát 09 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người.

- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 179 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 5 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 05 người.

- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 14 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.813 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.787 người, tử vong 1.572 người.

- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 484.848 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 38.018 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 221.631 ngày, xét nghiệm cho 612.199 tiêu bản, chẩn đoán 142.247 hình ảnh và phẫu thuật 5.494 trường hợp. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 1.719.671 lượt người; 137.600 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 800.478 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 90,83%; ước xét nghiệm cho 2.079.629 tiêu bản; chẩn đoán 488.672 hình ảnh và phẫu thuật cho 18.590 trường hợp.

- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.741 cơ sở, kết quả có 38 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 147 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.

4. Thông tin, báo chí, xuất bản

- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026; chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”. Thực hiện hướng dẫn cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp triển khai Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số trên địa bàn tỉnh; đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.

- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã xây dựng dự thảo Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 03 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.

5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công

5.1. Chính sách dân tộc

- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; công tác chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được quan tâm; các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai thực hiện. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra cục bộ ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS.

- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các lễ hội truyền thống như: Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer, Lễ mừng lúa mới của dân tộc Kho, Mạ, Chu Ru sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa cũ,… được tổ chức chu đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào, qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS.

- Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Sĩ số học sinh là người DTTS tiếp tục được duy trì ổn định. Các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú thực hiện việc trang cấp các vật dụng thiết yếu như chăn, màn, chiếu, gối, quần áo đồng phục và học phẩm cho học sinh. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Các mô hình đưa văn hóa truyền thống vào trường học và dạy tiếng K'ho (điển hình là Trường THCS Tân Thượng, xã Đinh Trang Thượng) đang phát huy hiệu quả, giúp học sinh DTTS giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Công tác phòng chống bạo lực học đường và xây dựng môi trường giáo dục an toàn được tuyên truyền, triển khai đến tất cả các trường ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh.

- Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác y tế vùng đồng bào DTTS đang chuyển dịch từ điều trị” sang chủ động phòng bệnh”. Các hoạt động khám sàng lọc bệnh không lây nhiễm (huyết áp, tiểu đường), tư vấn dinh dưỡng, cấp thuốc miễn phí cho người già và trẻ em thường xuyên được các bác sĩ trẻ tình nguyện tổ chức tại các xã khó khăn và vùng DTTS. Công tác tiêm chủng, tiêm bù, tiêm vét cho trẻ em vùng sâu, vùng xa chưa tiêm đủ mũi theo chương trình tiếp tục được triển khai. Từ quý I/2026, vắc - xin phế cầu bắt đầu đưa vào chương trình tiêm chủng miễn phí cho trẻ em vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn.

5.2. Chính sách tôn giáo

Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ban hành Giáo chỉ số 29-TCĐ/GC-HĐCM tấn phong giáo phẩm cho 70 chức sắc tỉnh Lâm Đồng; tổ chức khóa tu truyền thống khất sỹ lần thứ 40 cho 100 chư Tăng tại Tịnh xá Ngọc Thiền, phường Xuân Hương- Đà Lạt; Phân ban Ni giới tỉnh tổ chức Đại lễ tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái đạo tại Quảng trường Lâm Viên, phường Xuân Hương - Đà Lạt, có khoảng 2.000 Phật tử tham dự, qua đó trao tặng 01 căn nhà tình thương (trị giá 100,0 triệu đồng) cho 01 em học sinh, 120 phần học bổng (mỗi phần trị giá 1,0 triệu đồng) cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn và 36 phần học bổng cho 36 tăng ni sinh đang theo học tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh Lâm Đồng.

Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức các hoạt động mừng lễ Phục sinh năm 2026 vào ngày 05/4/2026; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết tổ chức Thánh lễ hành hương cho Hội Lòng Chúa Thương xót Giáo phận tại Trung tâm Thánh Mẫu Tàpao, xã Đồng Kho; Thánh lễ Kinh thánh Giuse tại Nhà hưu dưỡng linh mục Phan Thiết, xã Tân Lập. Đạo Tin Lành tổ chức Lễ Phục sinh năm 2026 trong không khí vui tươi, trang trọng; Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố thành lập chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm 04 chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam); Giáo hội Báp Tít Việt Nam tổ chức Đại Hội đồng lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2030, đoàn tỉnh Lâm Đồng có 28 người tham dự; Hội thánh Tin Lành Trưởng Lão Việt Nam tổ chức lễ công bố Quyết định thành lập Hội thánh Trung Thành, xã Tà Đùng với khoảng 600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định.

5.3. Chính sách người có công

Trong tháng đã giải quyết 429 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.919 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 48.057.554.478 đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (xây mới: 47 căn, sửa chữa: 40 căn). Tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng.

6. Hoạt động bảo hiểm

Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết 31/3/2026, toàn tỉnh có 312.140 người tham gia BHXH, tăng 1,18% so với tháng trước; có 237.284 người tham gia BHTN, tăng 5,57%; số người tham gia BHYT là 3.047.805 người, tăng 2,65% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 89,97% dân số.

Trong tháng đã giải quyết mới 10.993 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.198 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 115 người; trợ cấp 1 lần cho 2.944 người; chế độ ốm đau cho 5.919 người; chế độ thai sản cho 1.567 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 448 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.144 người và hỗ trợ học nghề cho 54 người). Lũy kế đến 31/3/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 25.646 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 3.402 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 402 người; trợ cấp 1 lần cho 5.976 người; chế độ ốm đau cho 14.641 người; chế độ thai sản cho 3.640 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 987 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 3.269 người và hỗ trợ học nghề cho 133 người).

7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/3/2026 - 15/4/2026)

Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, giảm 08 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 39 người, tăng 01 người so với tháng trước và giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 37 người, tăng 15 người so với tháng trước và giảm 30 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 250 vụ (trong đó có 04 vụ đường sắt), giảm 51 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 156 người, tăng 18 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 171 người, giảm 68 người so với cùng kỳ năm trước.

8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường

- Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 28/3/2026 đến 22/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai (mưa lớn kèm theo giông lốc) tại khu vực phường 1, 2, 3 Bảo Lộc, xã Đam Rông 2 và xã Nhân Cơ; thiên tai làm tốc mái 16 nhà dân, sập 0,9 ha giàn chanh giây, một số cây xanh và tường rào bệnh viện ngã đổ; ước thiệt hại khoảng 650 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 04 vụ thiên tai, làm tốc mái 17 căn nhà, sạt lở 375m bờ biển và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; chưa thống kê giá trị thiệt hại.

- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/3 đến ngày 15/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy nổ, tăng 07 vụ so với tháng trước và tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 1.542 triệu đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 28 vụ cháy (tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm chết 02 người và bị thương 03 người; ước tổng giá trị thiệt hại 2.570 triệu đồng.

- Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 65 triệu đồng. Lũy kế từ 4 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 08 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt là 415 triệu đồng.

* Đánh giá chung

Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, sản xuất vụ Đông xuân đạt tiến độ, chăn nuôi phát triển khá, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Công nghiệp tiếp tục tăng với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 4 tháng đầu năm tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 15,33%, tổng lượt khách du lịch phục vụ đạt gần 7,94 triệu lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải, lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và du lịch. Thu ngân sách nhà nước đạt khá với tổng thu 4 tháng đầu năm ước tăng 16,33% so với cùng kỳ; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, số doanh nghiệp thành lập mới gấp 2,1 lần cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh những kết quả tích cực, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, thách thức cần lưu ý. Giá xăng dầu, khí đốt và vật liệu xây dựng tăng cao tiếp tục gây áp lực lên chi phí sản xuất, vận tải và mặt bằng giá cả; CPI bình quân 4 tháng đầu năm tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ thực hiện và giải ngân một số dự án đầu tư công còn chậm do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, quy hoạch khoáng sản và thiếu nguồn vật liệu xây dựng. Hoạt động khai thác thủy sản còn chịu tác động bởi chi phí nhiên liệu tăng; dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh cục bộ tại một số địa phương. Bên cạnh đó, tình hình vi phạm lâm luật còn diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ một số nông sản chủ lực tiềm ẩn rủi ro khi diện tích mở rộng nhanh và phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu.

THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

 

 

Kèm file: So lieu KTXH_thang_04_nam_2026.pdf


 [T1]Giảm so với quý 1/2026 là do Công ty TNHH Linkfarm (Khu vực Đầu tư nước ngoài-xã Hồng Sơn) do Công ty nộp nhầm phân bổ thuế TNDN 303 tỷ



TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/