Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Trong tháng và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường; căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng, thị trường tài chính và thời tiết cực đoan đã tạo thêm áp lực đối với quá trình phục hồi kinh tế. Ở trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của các cấp, các ngành, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng cơ bản giữ vững ổn định, nhiều lĩnh vực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện.
Trong tháng và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường; căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng, thị trường tài chính và thời tiết cực đoan đã tạo thêm áp lực đối với quá trình phục hồi kinh tế. Ở trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của các cấp, các ngành, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng cơ bản giữ vững ổn định, nhiều lĩnh vực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện.
I. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý I năm 2026 ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,39%, đóng góp 1,29 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,91%, đóng góp 1,94 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,20%, đóng góp 3,77 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,52%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm.
II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Quý I năm 2026, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, đồng thời thể hiện rõ sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng. Vụ Đông xuân được triển khai đúng lịch thời vụ, bảo đảm tiến độ; các địa phương chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật mới và tăng cường phòng chống dịch bệnh; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm hầu hết tăng so với cùng kỳ; sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Chăn nuôi duy trì đà tăng trưởng ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát, không xảy ra dịch lớn trên diện rộng. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản tiếp tục tăng trưởng về sản lượng nuôi trồng và khai thác, góp phần đảm bảo nguồn cung trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tăng giá xăng, dầu làm gia tăng chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển và giá vật tư nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
Vụ Đông xuân 2026, nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới và hạn chế sâu bệnh, người dân đã chuyển đổi sang cây trồng khác trên đất trồng lúa với diện tích 1.870 ha. Tính đến ngày 15/3/2026, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân ước đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 56.400 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 6.150 ha, tăng 2,34%; cây khoai lang, diện tích ước đạt 2.250 ha, tăng 2,86%; cây đậu các loại diện tích ước đạt 2.750 ha, tăng 2,14%; cây lạc, diện tích ước dạt 1.400 ha, tăng 3,33%; cây rau các loại, diện tích ước đạt 28.100 ha, tăng 5,13%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.450 ha, tăng 4,90%,... Sản xuất rau và hoa trên địa bàn tỉnh ngày càng chuyển mạnh sang hướng nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tự động và các quy trình sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP; nhờ đó năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm được nâng cao, nhiều sản phẩm rau của tỉnh đã tham gia vào chuỗi cung ứng cho các hệ thống siêu thị, doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu.

1.2. Cây lâu năm
Trong quý I năm 2026, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Cụ thể một số loại cây chính như sau:
- Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha, giảm 1,52% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...;
- Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước (toàn tỉnh hiện có hơn 22.700 ha cà phê được canh tác theo hướng ứng dụng công nghệ cao; đang xây dựng 5 vùng sản xuất cà phê công nghệ cao với quy mô gần 1.750 ha, trong đó có 3 vùng đã được công nhận); hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...;
- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.216,9 ha, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích;
- Cây sầu riêng: Hiện đang giai đoạn chăm sóc, xử lý để đậu hoa kết trái; diện tích hiện có 44.224,2 ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;
- Cây thanh long: Trong quý I chủ yếu là vụ nghịch mùa, người nông dân đang xử lý ra hoa bằng chong đèn, chi phí sản xuất cao; diện tích hiện có 25.801,7 ha, giảm 0,69% so với cùng kỳ năm trước (diện tích thanh long có 09 mã số vùng trồng xuất khẩu đi thị trường Hoa Kỳ với diện tích là 171,6 ha). Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác;
- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371,4 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện.
- Cây điều: Diện tích điều hiện có 50.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 là thời kỳ quan trọng của vụ điều, là giai đoạn ra hoa, phát triển trái, bắt đầu bước vào mùa thu hoạch; một số địa phương trong tỉnh tiếp tục khuyến khích duy trì và phát triển cây điều gắn với chế biến, góp phần ổn định sinh kế cho người dân;
- Cây hồ tiêu: Hiện đang là vụ thu hoạch chính của cây hồ tiêu; diện tích hồ tiêu hiện có 37.759,5 ha, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng hồ tiêu có xu hướng ổn định và tích cực, nhờ giá mặt hàng này duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất.
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Trong quý I năm 2026, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm; việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên. Tỉnh đã chủ động triển khai kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn mùa khô năm 2026; thực hiện các giải pháp ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh mùa khô 2026 trên địa bàn; đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra tình trạng hạn hán.
1.4. Tình hình dịch bệnh
Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; công tác dự báo luôn được tăng cường nên không xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng trên diện rộng. Một số loại sâu bệnh hại xuất hiện rải rác trên các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả; tuy nhiên mức độ gây hại thấp, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 219 ha, Bệnh đạo ôn lá gây hại 468,3 ha; Cây cà chua: Sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 0,5 ha, Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha; Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 46,9 ha; Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha (109 ha nhiễm nặng); Cây cà phê chè: Bọ xít muỗi gây hại 2.117,2 ha; Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.312 ha, Bệnh thán thư gây hại 2.972 ha; Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, Bệnh thán thư cành, quả gây hại 213 ha, ốc sên gây hại 321 ha.
1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Đến nay, toàn tỉnh có 107.456 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, chiếm 10% diện tích gieo trồng toàn tỉnh (trong đó có khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh); có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS).
2. Chăn nuôi
Trong quý, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng tăng ở hầu hết các vật nuôi chủ lực. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ năm trước, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 3/2026 đạt 34.999,1 tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 93.228,7 tấn, tăng 9,84%.
- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,9 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ do giá bán tương đối ổn định, người chăn nuôi duy trì đàn phục vụ sản xuất và cung cấp thịt cho thị trường. Tuy nhiên, do thời gian nuôi dài và hiệu quả kinh tế chưa cao nên việc mở rộng quy mô còn hạn chế.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,3 nghìn con bò, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,79%). Quy mô đàn bò tiếp tục được duy trì nhờ đầu ra sản phẩm thịt và sữa tương đối ổn định; nhiều cơ sở chăn nuôi chú trọng cải thiện con giống và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất.
- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.495 nghìn con, tăng 6,03% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,45%). Quy mô đàn lợn tăng nhờ một số doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại, tăng cường liên kết chăn nuôi gia công với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai chặt chẽ nên nguy cơ phát sinh dịch bệnh cơ bản được kiểm soát.
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.500 nghìn con, tăng 7,14% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.150 nghìn con, chiếm 71,78% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,95%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn và khả năng quay vòng vốn nhanh nên người chăn nuôi dễ dàng điều chỉnh quy mô đàn theo nhu cầu thị trường.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Trong Quý I năm 2026, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Các loại dịch bệnh nguy hiểm như: lở mồm long móng, tai xanh ở lợn, viêm da nổi cục... không xảy ra trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường.
- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý I/2026, đã xảy ra tại 03 hộ/03 thôn/03 xã với tổng số 1.099 con lợn chết và tiêu hủy, trọng lượng tiêu hủy 53.254 kg. Các địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp chống dịch, thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc tại khu vực có dịch, nơi có ổ dịch cũ và những nơi có nguy cơ cao; xử lý dứt điểm, không để dịch bệnh kéo dài.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong quý, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, chủ yếu gieo tạo giống cây rừng phục vụ công tác trồng rừng khi điều kiện thời tiết thuận lợi.
- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3 năm 2026 ước đạt 36.682,9 m3, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 104.065 m3, tăng 2,52%.
- Sản lượng củi khai thác tháng 3 năm 2026 ước đạt 32.172,2 ste, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 93.459 ste, tăng 2,12%.
- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/02/2026 - 10/3/2026) là 19 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 07 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 1,03 ha; trong đó 01 vụ vi phạm khai thác rừng trái pháp luật có tính chất phức tạp, nổi cộm xảy ra tại xã Tân Lập, thiệt hại 1.161 gốc cây gỗ Tếch, tương đương 126,9 m3 gỗ); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 46 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 39 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 6,9 ha). Quý I năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/3/2026), tổng số vụ vi phạm là 139 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 49 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,6 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 44 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 7,2 ha).
4. Thủy sản
- Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 472,8 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ; lũy kế 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.427,5 ha, tăng 0,89% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 423,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 130 ha, tăng 1,83%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.320,4 tấn, giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 420 tấn, tăng 4,74%); quý I năm 2026 ước đạt 6.955,9 tấn, tăng 1,07% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.150,5 tấn, tăng 3,07%).
- Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nổi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 16.209,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 16.159 tấn, tăng 3,02%); quý I năm 2026 ước đạt 53.257,3 tấn, tăng 3,5% (sản lượng khai thác biển đạt 53.109 tấn, tăng 3,5%).
- Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,06 tỷ post, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 5,9 tỷ post, tăng 2,24%.

5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất
Trong quý I năm 2026, công tác ứng dụng khoa học, công nghệ và khuyến nông tiếp tục được quan tâm triển khai gắn với phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 về sản xuất lúa, tái canh cà phê, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu. Công tác sản xuất, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản được duy trì hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục được đẩy mạnh; toàn tỉnh có 107.456 ha ứng dụng công nghệ cao, chiếm khoảng 10% diện tích gieo trồng, trong đó khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh; có 16 vùng trồng trọt và 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của ngành nông nghiệp.
6. Chương trình xây dựng nông thôn mới
Trong quý I năm 2026, các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục được triển khai đồng bộ, bao gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: 2026-2030); đồng thời xây dựng dự thảo phân loại nhóm xã thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 và rà soát, lập kế hoạch triển khai nhiệm vụ cho giai đoạn 2026-2030 và năm 2026. Kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố với 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2023, gồm 45 HTX thành viên; toàn tỉnh có 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó có 166 HTX ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 945 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 08 sản phẩm đang đề nghị đánh giá 5 sao, 80 sản phẩm 4 sao và 857 sản phẩm 3 sao, với 530 chủ thể tham gia; đồng thời tăng cường quảng bá, tiêu thụ, mở rộng mạng lưới phân phối, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương.
III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 3 và quý I năm 2026 với mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là động lực chính cho tăng trưởng toàn ngành; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải hoạt động ổn định.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 43,32% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,2%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 27,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,72%.
Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,68%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,50%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,30%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,53%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
- Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 404.989 m3, tăng 2,3 lần so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 888.739 m3, tăng 16,68% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình đầu tư công đang gấp rút giải ngân vốn năm 2025.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.594 tấn, tăng 45,1% so với tháng trước và tăng 9,47% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.892 tấn, tăng 5,18% so với cùng kỳ.
- Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.240 tấn, tăng 30,99% so với tháng trước và tăng 24,72% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.991 tấn, tăng 29,02% so với cùng kỳ.
- Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 12.426 nghìn lít, giảm 50,3% so với tháng trước và tăng 6,99% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 63.768 nghìn lít, tăng 17,1% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao.
- Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 585 nghìn đôi, tăng 81,55% so với tháng trước và tăng 9,69% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.558 nghìn đôi, tăng 28,77% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm.
- Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 17.166 tấn tăng 52,75% so với tháng trước và tăng 12,57% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.028 tấn, tăng 28,69% so với cùng kỳ, nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026 và nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất từ tháng 3/2025 nên so với cùng kỳ tăng khá cao.
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 138,9 nghìn tấn, tăng 4,09% so với tháng trước và tăng 9,34% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 401,8 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.147 triệu kwh, tăng 40,1% so với tháng trước và giảm 2,92% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.077 triệu kwh tăng 1,91% so với cùng kỳ.
- Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 533 triệu kwh, tăng 12,66% so với tháng trước và tăng 3,61% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.496 triệu kwh tăng 4,47% so với cùng kỳ.
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 0,78% so với tháng trước và tăng 6,29% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,92%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,97% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,25%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,06%.
Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,38%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,10%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,52%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,30%.
1.4. Chỉ số tiêu thụ
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 43,38% so với tháng trước và tăng 2,08% so với cùng kỳ; lũy kế quý I năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 0,05% so với cùng kỳ.
Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 18,36%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,01%; chế biến gỗ tăng 2,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,78%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 16,88%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,17%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 1,28%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,41%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 3,78%; ngành dệt giảm 11,47%; sản xuất trang phục giảm 34,38%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 11,68%...
1.5. Chỉ số tồn kho
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 7,28% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,09%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,36%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 6,80%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 121,76%… Ngược lại những ngành giảm như: ngành dệt giảm 59,76%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 49,18%; sản xuất kim loại giảm 1%.
1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo
Sản xuất kinh doanh quý I năm 2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 31,65% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,59% đánh giá khó khăn hơn và 46,76% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi.
Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 32,17% có chiều hướng thuận lợi; 43,48% có chiều hướng không thay đổi và 24,35% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 37,50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 43,75% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong doanh nghiệp nhà nước đánh giá 25,00% có chiều hướng thuận lợi; 62,50% có chiều hướng không thay đổi và 12,50% có chiều hướng khó khăn hơn.
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I năm 2026, có 50,36% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 20,86% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 52,52% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 11,51% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 37,41% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 26,62% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,58% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 22,30% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,14% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 4,32% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 15,11% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 2,88% lý do khác.
Dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 so với quý I năm 2026: Có 84,17% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn (37,41% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hơn, 46,76% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định); 15,83% dự báo khó khăn hơn.
1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
Trong Quý I năm 2026 thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 1 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 178,6 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 246 dự án (58 dự án FDI và 188 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 44.780,238 tỷ đồng và 514,788 triệu USD và diện tích đất đăng ký 731,2 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 54,18%. Hiện nay có 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện lũy kế đến nay: Doanh thu đạt 3.765 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 49 triệu USD; nộp ngân sách đạt 191 tỷ đồng.
Trong Quý I năm 2026, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,8/881,6 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,26% so với cùng kỳ (43,8 tỷ đồng).
- KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%.
- KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,02/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%.
- KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 15 dự án vốn đầu tư trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,20/22,8 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026.
- KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,00/205 tỷ đồng đạt 0,49% kế hoạch năm 2026.
- KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,10/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026.
- KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,5/473 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch năm 2026.
- KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%.
- KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%.
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Xây dựng
Trong Quý I năm 2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc đẩy mạnh triển khai các dự án đầu tư công, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông liên vùng, cùng với sự phát triển của các dự án đô thị, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần duy trì đà tăng trưởng ổn định của ngành.
Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I năm 2026 ước đạt 12.308 tỷ đồng, tăng 13,45% so cùng kỳ. Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 56 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,45%), tăng 94,27% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.041,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 57,21%), tăng 16,2% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 93 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,76%), giảm 39,46% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 5.117,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 41,58%), tăng 11,1% so với cùng kỳ.
Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý I năm 2026 phân theo loại công trình: Nhà ở đạt 5.038,3 tỷ đồng, tăng 11,47% so với cùng kỳ; nhà không để ở đạt 2.588,1 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 3.122 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu một số công trình giao thông trọng điểm); hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.559,7 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ.
Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp xây dựng quý I năm 2026 so quý IV năm 2025 với 6,4% doanh nghiệp nhận định hoạt động thuận lợi hơn, 35,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động ổn định và 57,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động khó khăn hơn. Dự báo quý II năm 2026 so với quý I/2026, các doanh nghiệp xây dựng nhận định hoạt động SXKD tốt lên với 11,6% doanh nghiệp dự báo thuận lợi hơn; 39,3% nhận định ổn định và 49,1% dự báo khó khăn hơn.
3. Đầu tư phát triển
Trong quý I năm 2026, cùng với việc tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục có chuyển biến tích cực. Nhằm tạo thêm động lực cho tăng trưởng, tỉnh xác định 20 dự án trọng điểm trong năm 2026, với tổng vốn trên 88 nghìn tỷ đồng. Trong đó, có 10 dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, 02 dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) và 08 dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách. Việc lựa chọn danh mục dự án được thực hiện trên cơ sở tính cấp thiết, khả năng triển khai, hiệu quả kinh tế - xã hội, thứ tự ưu tiên bố trí vốn và năng lực tổ chức thực hiện, qua đó tạo tiền đề quan trọng để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển của tỉnh.
Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 715,1 tỷ đồng, tăng 6,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 669 tỷ đồng, chiếm 93,35% và tăng 7,03% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 314,6 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 96,8 tỷ đồng, giảm 43,64% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 10,6 tỷ đồng, giảm 29,88% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 243 tỷ đồng, tăng 80,11% so với cùng kỳ; vốn khác 4 tỷ đồng, tăng 58,26% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46,1 tỷ đồng, chiếm 6,45% và tăng 3,39% so với cùng kỳ.
Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.918,3 tỷ đồng, đạt 12,60% so với kế hoạch năm, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.790,2 tỷ đồng, tăng 4,95% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 839,5 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 255,6 tỷ đồng, giảm 46,24% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 29,6 tỷ đồng, giảm 27,89% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 655 tỷ đồng, tăng 80,25% so với cùng kỳ; vốn khác 10,5 tỷ đồng, tăng 60,09% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 128,1 tỷ đồng, tăng 3,39% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn trong quý I năm 2026 ước đạt 22.007,4 tỷ đồng, tăng 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước đạt 3.488,4 tỷ đồng, tăng 5,36%, chiếm 15,85% trong tổng nguồn vốn; vốn ngoài nhà nước đạt 17.745,9 tỷ đồng, tăng 12,85%, chiếm 80,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 773,1 tỷ đồng, tăng 4%, chiếm 3,51%.
Tình hình phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục có chuyển biến tích cực. Tính đến ngày 18/3/2026, trong tháng toàn tỉnh có 400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 43,88% so với tháng trước và tăng 51,52% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 60 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động; 70 doanh nghiệp giải thể. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.349 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 2,0 lần so với cùng kỳ; 433 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,71%; 889 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,2%; 263 doanh nghiệp giải thể, tăng 2,1 lần. Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 5.032 tỷ đồng, tăng 10,5%; bình quân mỗi tháng có gần 600 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Về thu hút đầu tư, từ đầu năm đến ngày 18/3/2026, toàn tỉnh có 10 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 54.648 tỷ đồng; 12 dự án được chấp thuận điều chỉnh quy mô, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện và một số nội dung liên quan. Tính đến ngày 18/3/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.938 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 828.602 tỷ đồng; trong đó có 237 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.297 tỷ đồng.
* Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm
Trong quý I năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên các lĩnh vực giao thông, hàng không, thủy lợi, công nghiệp và hạ tầng đô thị, tạo nền tảng quan trọng cho liên kết vùng, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Về giao thông, dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có chiều dài 124,13 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó khu vực Đắk Nông cũ phụ trách 2 dự án thành phần, gồm dự án đường gom và cầu vượt với sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng theo hình thức PPP, BOT. Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương giai đoạn 1 dài 73,6 km, tổng mức đầu tư khoảng 17.718 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 3.110 tỷ đồng.
Về hạ tầng hàng không và đường sắt, dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương có tổng vốn gần 5.000 tỷ đồng, đang được triển khai nhằm đưa Liên Khương trở thành cảng hàng không quốc tế. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư hạng mục dân dụng khoảng 3.800 tỷ đồng. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh có chiều dài 156,5 km, đi qua 18 phường, xã, có 02 nhà ga, 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha, ảnh hưởng đến 2.441 hộ gia đình, 35 tổ chức và dự kiến bố trí tái định cư cho 991 hộ.
Trong lĩnh vực thủy lợi, dự án hồ chứa nước KaZam có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đạt 407,16/495,50 tỷ đồng, bằng 82% tổng vốn; riêng năm 2025 giải ngân 60,89/149,28 tỷ đồng, đạt 41%. Hồ chứa nước Ka Pét có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng, đến nay đã giải ngân 48,92 tỷ đồng/267,52 tỷ đồng kế hoạch vốn năm. Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị có tổng mức đầu tư 565,35 tỷ đồng, phục vụ tưới cho khoảng 2.900 ha đất nông nghiệp, song đến nay chưa thể triển khai do chưa hoàn tất thủ tục nhiệm vụ - dự toán và đo đạc giải thửa phục vụ giải phóng mặt bằng. Dự án hồ Đắk Gang có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích hồ khoảng 15 triệu m³, cung cấp nước tưới cho khoảng 2.000 - 2.500 ha cây trồng.
Trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị, dự án Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông có tổng mức đầu tư trên 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, dự kiến vận hành phân kỳ đầu tiên trong quý III năm 2026. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 có quy mô 1.070 ha, Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 giai đoạn 1 có quy mô 1.225 ha, định hướng phát triển các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy, công nghiệp công nghệ cao và logistics. Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại II - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 62,5 tỷ đồng. Nhìn chung, các công trình trọng điểm đang từng bước được triển khai, song một số dự án còn gặp khó khăn về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư và lựa chọn nhà đầu tư, cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ thực hiện.
IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
Hoạt động thương mại trong quý I/2026 diễn ra sôi động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân và khách du lịch, nhất là trong các dịp lễ, tết và cuối tuần. Hoạt động du lịch tiếp tục khởi sắc; các cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ lữ hành duy trì hoạt động ổn định, phục vụ tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng. Cùng với đó, hoạt động vận tải, kho bãi được duy trì thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn.
1. Thương mại
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Trong tháng, thị trường trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, sức mua của người dân tăng nhẹ so với tháng trước, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng thiết yếu. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc biến động bất thường. Các dịch vụ ăn uống, lưu trú và dịch vụ liên quan tiếp tục duy trì ổn định, phục vụ tốt nhu cầu của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, thị trường hàng hóa và giá cả nhìn chung ổn định, lượng hàng hóa lưu thông tăng, hệ thống phân phối chủ động nguồn hàng và triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, góp phần kích cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại trên địa bàn.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 15.420,9 tỷ đồng, giảm 0,92% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 9.689,1 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước và tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 2.825 tỷ đồng, giảm 8,91% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 46.619 tỷ đồng, tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 28.991,7 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 9.013,1 tỷ đồng, tăng 18,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước.

1.2. Công tác quản lý thị trường
Trong thời gian qua, tình trạng vi phạm trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn vẫn còn xảy ra, chủ yếu tập trung ở các mặt hàng như thời trang, mỹ phẩm và thực phẩm. Các hành vi vi phạm phổ biến gồm kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Trước thực tế đó, lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt đối với một số sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như thực phẩm chức năng mang nhãn hiệu “DOPPELHERZ” và thuốc Clorocid TW3. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán; chú trọng rà soát, xử lý các sản phẩm mỹ phẩm vi phạm, tăng cường quản lý trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng.
Kết quả, từ ngày 05/02 đến 14/3/2026, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra 299 vụ, phát hiện 290 vụ vi phạm và xử lý 287 vụ; hiện còn 03 vụ đang tiếp tục xử lý. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 2.488,63 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy ước tính 854,55 triệu đồng. Qua đó cho thấy công tác quản lý thị trường được triển khai quyết liệt, góp phần ổn định môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
2. Giá cả
2.1. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 0,01% so với tháng 12/2025 và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,26%. Tính chung quý I năm 2026, CPI tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước.
- Nguyên nhân tăng CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,82% làm CPI chung tăng 1,15 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo quý I/2026 tăng 1,50% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 6,78% làm CPI chung tăng 1,64 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 10,72%; giá thịt gia cầm tăng 7,15%, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,75%, do giá lương thực thực phẩm đang mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng; Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,79% do giá xi măng, cát, đá tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng, làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm; Chỉ số giá dầu hỏa tăng 12,33% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới; Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,59%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,46% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,40%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm; Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,52% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 0,58%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 16,57% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,17%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên.
- Nguyên nhân giảm CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân quý I/2026 giá gas giảm 5,55% so với cùng kỳ năm trước.

2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Trong Quý I năm 2026, giá nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có xu hướng tăng nhẹ, phù hợp với diễn biến chung của cả nước trong bối cảnh mặt bằng giá đầu vào vẫn duy trì ở mức cao. Sự gia tăng này chịu tác động từ nhiều yếu tố như biến động giá năng lượng, chi phí vận chuyển và nhu cầu sản xuất, đầu tư phục hồi. Biến động giá đầu vào đã ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản phẩm và tạo áp lực nhất định lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tính chung trong quý, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh áp lực chi phí vẫn còn hiện hữu. Xét theo nhóm hàng, cả 7 nhóm sản phẩm chính đều ghi nhận mức tăng giá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 18,34%, nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 6,73%, dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,84%, điện, khí đốt và điều hòa không khí tăng 4,79%, nguyên vật liệu khác tăng 4,5%, sản phẩm xây dựng tăng 3,87% và nước tự nhiên khai thác tăng 0,9%. Diễn biến này cho thấy áp lực chi phí đầu vào lan tỏa trên nhiều lĩnh vực sản xuất, không chỉ tập trung ở một số ngành riêng lẻ.
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I năm 2026 tăng 1,93% so với quý trước và tăng 5,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 5,06% so với quý trước, tăng 17,44% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,52% so với quý trước, tăng 4,87% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,2% so với quý trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước (nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy thủy điện áp dụng giá điện mùa khô, cùng với sản lượng phát điện vượt giá hợp đồng tại một số nhà máy, kéo theo chỉ số giá nhóm thủy điện tăng. Đồng thời, chi phí đầu vào như than, dầu, điện và chi phí bảo trì ở mức cao cũng làm tăng giá nhiệt điện và các dịch vụ liên quan); chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,32% so với quý trước, tăng 0,78% so cùng kỳ năm trước, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu phù hợp với tình hình thực tế..
Nhìn chung, diễn biến giá trong quý cho thấy áp lực chi phí sản xuất vẫn còn, đòi hỏi các doanh nghiệp cần chủ động thích ứng, tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh giá đầu vào còn nhiều biến động.
3. Hoạt động du lịch
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, thể thao phục vụ Nhân dân và du khách, như: Giải xe đạp nữ quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh - Cúp BIWASE, Giải Việt Nam Festival 3 môn thể thao địa hình lần thứ 4, Lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh Outdoor Festival 2026”, Giải chạy địa hình Dalat Ultra Trail 2026... Các cơ sở kinh doanh ăn uống, vui chơi giải trí duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, lượng khách đến địa phương trong các dịp lễ, tết tăng khá. Địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động đón và quảng bá hình ảnh du lịch, như chào đón những du khách đầu tiên đến bằng đường hàng không trong dịp năm mới, tặng quà đặc sản địa phương tại sân bay Liên Khương,…; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Lâm Đồng thân thiện, hấp dẫn.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.865,1 ngàn lượt, giảm 9% so tháng trước và tăng 22,23% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 65,5 ngàn lượt, giảm 11% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.536 ngàn ngày khách, giảm 8,99% so với tháng trước và tăng 23,76% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 160 ngàn lượt khách, giảm 5,21% so với tháng trước và tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 517,5 ngàn ngày khách, giảm 6,39% so với tháng trước và tăng 22,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 5.910,4 ngàn lượt, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 217,8 ngàn lượt, tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 11.231,4 ngàn ngày khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý I năm 2026 đạt 508,3 ngàn lượt, tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.615,6 ngàn ngày khách, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 570,2 tỷ đồng, giảm 8,32% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.209,3 tỷ đồng, giảm 9,05% so với tháng trước và tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 45,4 tỷ đồng, giảm 9,38% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.886,8 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 6.980,5 tỷ đồng, tăng 17,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 145,8 tỷ đồng, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.083,3 tỷ đồng, giảm 7,3% so với tháng trước và tăng 26,86% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 16.070,4 tỷ đồng, tăng 24,84% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 717,7 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước và tăng 17,57% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 0,29% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 140,1 tỷ đồng, tăng 0,01% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 242,7 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 19,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.332,9 tỷ đồng, tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 304 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.171,1 tỷ đồng, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 506,1 tỷ đồng, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 430,3 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 3.902,5 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 883,9 tỷ đồng, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 179 tỷ đồng, tăng 0,94% so với quý trước và tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 635,3 tỷ đồng, tăng 0,26% so với quý trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước.
5. Hoạt động vận tải
Trong Quý I năm 2026, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên có sự giảm nhẹ vào thời điểm sau Tết Nguyên đán. Nguyên nhân chủ yếu do lượng khách du lịch giảm sau kỳ nghỉ lễ, kéo theo nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ du lịch không còn sôi động như giai đoạn trước Tết.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.833,8 nghìn HK, giảm 3,19% so với tháng trước và tăng 22,13% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 409.716,4 nghìn HK.Km, giảm 2,74% so với tháng trước và tăng 23,28% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 8.516,6 nghìn HK, tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.228.677,7 nghìn HK.Km, tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.057,3 nghìn tấn, giảm 3,59% so với tháng trước và tăng 20,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 303.193,3 nghìn tấn.Km, giảm 3,30% so với tháng trước và tăng 21,67% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 6.185,0 nghìn tấn, tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 910.160,3 nghìn tấn.Km, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước.
- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.184,1 tỷ đồng, giảm 1,53% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 3.488,7 tỷ đồng, tăng 21,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.189,8 tỷ đồng, tăng 26,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.706,5 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 455,2 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước.
- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Quý I năm 2026 ước đạt 585 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 509,4 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).

V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.906 tỷ đồng, tăng 33,74% so với tháng trước và tăng 7,96% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 11.070,7 tỷ đồng, bằng 32,15% kế hoạch năm và tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 10.518,3 tỷ đồng, bằng 30,82% kế hoạch năm và tăng 24,45%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 552,3 tỷ đồng, bằng 31,38% kế hoạch năm và tăng 73,24% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa quý I năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1.689 tỷ đồng (bằng 44,41% kế hoạch năm và tăng 30,49% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 784 tỷ đồng (bằng 56,80% kế hoạch năm và tăng 62,39%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.851 tỷ đồng (bằng 42,63% kế hoạch năm và tăng 63,30%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 905 tỷ đồng (bằng 33,16% kế hoạch năm và tăng 10,04%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.017 tỷ đồng (bằng 13,79% kế hoạch năm và tăng 2,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.183 tỷ đồng (bằng 37,64% kế hoạch năm và tăng 7,70%).
2. Chi ngân sách Nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quý I năm 2026 ước thực hiện 13.233 tỷ đồng (bằng 29,75% kế hoạch, tăng 15,75% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 6.213 tỷ đồng, tăng 37,75% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 7.020 tỷ đồng, tăng 1,42% so với cùng kỳ.
3. Hoạt động tín dụng
Công tác huy động vốn: đến 28/02/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 233.566 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 4.291 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,87%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 230.499 tỷ đồng (chiếm 98,69% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.067 tỷ đồng, (chiếm 1,31% tổng huy động vốn). Ước 31/3/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,0%.
Hoạt động tín dụng: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.093 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,03%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.832 tỷ đồng (chiếm 99,39% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.261 tỷ đồng (chiếm 0,61% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.534 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 107.559 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/3/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,0%.
Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng bình quân trong tỉnh ở mức 0,16% - 0,32%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 3,41% - 4,69%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 5,69% - 7,12%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 5,9% - 6,23%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức.
Đối với lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay bằng VND bình quân vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn 7,84%/năm, trung dài hạn 9,40%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,02% - 4,15%/năm.
Dư nợ cho vay các lĩnh vực: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.999 tỷ đồng, chiếm 50,39% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32727 tỷ đồng, chiếm 8,82% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 151367 tỷ đồng, chiếm 40,79% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.862 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng.
VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano, băng rôn, hình ảnh, cờ hồng,... phục vụ công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng, Cuộc thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn và tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của người dân.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tập trung tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức 10 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở tuyên truyền chào mừng Đại hội đại biểu Đảng các cấp tại một số xã trên địa bàn tỉnh; thực hiện 49 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát sinh (trong đó biểu diễn phục vụ cơ sở là 38 buổi); thực hiện 202 buổi chiếu phim lưu động thu hút trên 50.000 lượt người xem và duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). Ngoài ra trong quý I năm 2026, tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhiệm kỳ 2025 - 2030; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng xuân Bính Ngọ 2026 tại 03 khu vực; biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ Nhân dân và du khách từ mùng 01 Tết đến mùng 03 Tết; chiếu phim, chương trình văn nghệ chủ đề “Mùa Xuân Hy Vọng” phục vụ cán bộ, chiến sĩ và phạm nhân tại Trại giam Đại Bình nhân dịp Xuân Bính Ngọ năm 2026; tổ chức Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ (trưng bày sách, báo tạp chí, ấn phẩm xuân với 3.605 bản sách; xếp 11 mô hình sách nghệ thuật…); triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng” và các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026),… phục vụ người dân và du khách.
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh: Đón 75.286 lượt khách, trong đó có 8.923 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 22.066 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 13.362 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 3.273 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 35.020 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 1.565 lượt khách). Tổ chức sưu tầm 55 hiện vật, hình ảnh, tư liệu; xây dựng hồ sơ hiện vật Linga - Yoni và Linga thạch anh để UBND tỉnh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia.
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 324 đoàn với 12.859 lượt khách, trong đó có 131 khách nước ngoài. Phục vụ 28 lễ viếng, 01 kết nạp Đoàn và 02 sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh; tiếp nhận 02 tượng đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hưng đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện phóng sự “Triển lãm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Dục Thanh”, Báo Lâm Đồng điện tử thực hiện phóng sự “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận - Lâm Đồng” thu hút hơn 134.000 lượt khách hưởng thụ văn hóa.
+ Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 4.664 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm được 04 hiện vật là ảnh tư liệu liên quan hoạt động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 435 thẻ (128 thẻ thiếu nhi); phục vụ 615.905 lượt bạn đọc; luân chuyển 82.004 lượt tài liệu; bổ sung 2.091 cuốn sách; đăng tải 339 bài viết về hoạt động Thư viện trên Fanpage; giới thiệu 364 đầu sách trên mạng xã hội; giới thiệu 10 video clip; cập nhật 420 tin bài lên trang website của Thư viện và sưu tầm 243 tin bài về Lâm Đồng.
1.2. Hoạt động thể thao
Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm duy trì và phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng.
- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ phát động Tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; Giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; môn Việt dã - Leo núi Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 - Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “DI LINH OUT DOOR FESTIVAL 2026”; Giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; Giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026.
- Thể thao thành tích cao: Đã ban hành Quyết định cử đoàn vận động viên tham gia 07 giải thể thao quốc gia theo kế hoạch. Thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (12/3/2026) là 22 huy chương (05 HCV, 05 HCB, 12 HCĐ).
2. Giáo dục và đào tạo
Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2025-2026. Công tác chuyên môn, nghiệp vụ được triển khai toàn diện ở tất cả các cấp học; chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục.
Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 126 ngoài công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập và 06 ngoài công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập và 02 ngoài công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập và 08 ngoài công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người.
Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng (trong đó: 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó: 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên.
Kết quả kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026: Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao chất lượng dạy và học. Kết quả, toàn tỉnh giành 104 giải, gồm: 01 giải nhất, 11 giải nhì, 29 giải ba và 63 giải khuyến khích.
3. Y tế
Trong tháng tập trung công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý ngay khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân.
- Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 199 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 250 ca so với tháng trước và giảm 48 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.274 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 19 ổ dịch, quý I đã phát hiện xử lý 66 ổ dịch.
- Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc; quý I năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 225 ca mắc, giảm 111 ca so với tháng trước và tăng 197 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 878 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 07 ca so với tháng trước và giảm 756 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 27 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 2.128 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 2.796 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 2.194 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 2.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.104 trẻ, mũi 2 cho 1.808 trẻ và mũi 3 cho 2.109 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 1.999 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 441 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; đang giám sát 11 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 434 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 4 người.
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 122 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 3 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 06 người.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.799 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.784 người, tử vong 1.569 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 318.612 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 29.747 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 154.801 ngày, xét nghiệm cho 400.330 tiêu bản, chẩn đoán 90.484 hình ảnh và phẫu thuật 3.636 trường hợp. Quý I năm 2026 ước khám bệnh cho 1.205.709 lượt người; 95.777 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 577.418 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 68%; ước xét nghiệm cho 1.683.550 tiêu bản; chẩn đoán 339.649 hình ảnh và phẫu thuật cho 12.295 trường hợp.
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.638 cơ sở, kết quả có 31 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 209,15 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.
4. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các ngày lễ, sự kiện chính trị quan trọng. Công tác thông tin, tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được triển khai kịp thời trên báo chí và hệ thống thông tin cơ sở. Kịp thời cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, sự kiện quan trọng và quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức; đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 04 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh đã quan tâm, tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ gạo,... cho hộ nghèo, gia đình chính sách và người có uy tín với số tiền hơn 300 tỷ đồng, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân.
- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong vùng đồng bào DTTS phát triển sâu rộng, phong phú với các lễ hội truyền thống như: Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội mừng lúa mới (tết đầu lúa), giữ gìn văn hóa cồng chiêng, duy trì tổ chức các trò chơi truyền thống; qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa và các chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, thu hút đông đảo người dân tham gia, hưởng thụ.
- Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
- Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, hệ thống y tế cơ sở tại 100% các xã vùng DTTS đảm bảo trực và chăm sóc sức khỏe người dân.
- Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã dự trữ đầy đủ các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu và hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của ngưởi dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.
5.2. Chính sách tôn giáo
Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập; tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác phật sự năm 2025; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 08 cơ sở Phật giáo; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị các cơ sở tự viện trong tỉnh; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban - Lâm Hà tổ chức lễ Cầu quốc thái dân an thu hút khoảng 1.000 tăng ni, phật tử (trong đó có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ) tham dự. Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi thuộc các Giáo hạt: Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự; Giáo xứ Chính Toà, phường Xuân Hương - Đà Lạt tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Tất Niên năm 2025, họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ 2026 và phát 280 phần quà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn; Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Hải tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Thiết lập Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Thanh, xã Bảo Lâm 1 với khoảng 500 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Chi hội và bổ nhiệm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) Hang Hớt, xã Nam Ban Lâm Hà với khoảng 1.000 người là chức sắc, tín đồ tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định.
5.3. Chính sách người có công
Công tác chăm lo Tết và thực hiện chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng là người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí và đối tượng yếu thế được quan tâm thực hiện. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 114.302,982 triệu đồng thăm hỏi, động viên người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội.
Trong quý I năm 2026, đã giải quyết 501 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hằng tháng cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 134.183.118.738 đồng. Giải quyết chế độ mai táng phí cho 212 hồ sơ.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 28/02/2026, toàn tỉnh có 292.335 người tham gia BHXH, giảm 0,95% so với tháng trước; có 224.773 người tham gia BHTN, tăng 1,36%; số người tham gia BHYT là 2.848.381 người, tăng 2,06% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 84,08% dân số.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, đã giải quyết mới 5.853 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 934 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 91 người; trợ cấp 1 lần cho 1.395 người; chế độ ốm đau cho 3.328 người; chế độ thai sản cho 814 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 225 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 933 người và hỗ trợ học nghề cho 01 người). Lũy kế đến ngày 28/02/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 16.857 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 2.204 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 287 người; trợ cấp 1 lần cho 3.032 người; chế độ ốm đau cho 8.722 người; chế độ thai sản cho 2.073 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 539 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.125 người và hỗ trợ học nghề cho 79 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/02/2026 - 14/3/2026)
Trong tháng xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, giảm 42 vụ so với tháng trước và giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 38 người, giảm 07 người so với tháng trước và tăng 08 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 22 người, giảm 45 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 196 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 117 người, tăng 20 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 134 người, giảm 38 người so với cùng kỳ năm trước.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/02 đến ngày 28/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ mưa lốc, giông tại xã Đạ Tẻh 2 làm 01 căn nhà tốc mái. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ thiên tai, làm sạt lở 375 m chiều dài bờ biển tại xã Tân Thành và 01 căn nhà bị tốc mái; chưa thống kê giá trị thiệt hại.
- Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/02 đến ngày 15/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy (tăng 02 vụ so với tháng trước và tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người, ước thiệt hại 988 triệu đồng. Quý I năm 2026 (tính đến 15/3/2026), toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy (tăng 08 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người; ước tổng giá trị thiệt hại 1.028 triệu đồng.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ, giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 350 triệu đồng.
* Đánh giá chung
Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng nhìn chung tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và tăng trưởng khá trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều yếu tố biến động, giá cả một số yếu tố đầu vào sản xuất ở mức cao, tác động nhất định đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên địa bàn tỉnh, nhiều ngành, lĩnh vực chủ yếu tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. GRDP quý I ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước; cả ba khu vực kinh tế đều duy trì đà tăng, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng nổi bật.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò nền tảng ổn định của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ; chăn nuôi và thủy sản duy trì phát triển ổn định; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục được mở rộng với 107.456 ha.
Khu vực công nghiệp, xây dựng và đầu tư tiếp tục duy trì xu hướng tăng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao. Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn ước tăng 11,27%, cho thấy hoạt động đầu tư, xây dựng và mở rộng năng lực sản xuất tiếp tục được duy trì.
Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,73%, lượng khách du lịch tăng 20,30% so với cùng kỳ, hoạt động vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, cho thấy sức mua, nhu cầu tiêu dùng và các hoạt động lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí phục hồi tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 26,22%.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; công tác y tế, giáo dục, an sinh xã hội, chăm lo người có công, hộ nghèo và các đối tượng yếu thế được triển khai tương đối đầy đủ, kịp thời.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, một số khó khăn, hạn chế vẫn còn cần lưu ý. Chi phí đầu vào sản xuất còn ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và người sản xuất; mặc dù CPI tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, nhưng nhóm giao thông tăng 12,51%; trong đó giá nhiên liệu tăng 29,49%, giá xăng tăng 31,06%, giá dầu diezen tăng 57,71% và giá dầu hỏa tăng 63,25% gây áp lực chi phí vận tải, logistics, ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tuy cơ bản được kiểm soát nhưng vẫn còn phát sinh cục bộ; tăng trưởng công nghiệp chưa thật sự đồng đều giữa các ngành; công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ vi phạm. Đây là những yếu tố cần tiếp tục theo dõi sát và có giải pháp phù hợp nhằm củng cố tính ổn định, bền vững của tăng trưởng trong thời gian tới.
TKT Lâm Đồng
.PNG)
.PNG)
.PNG)
.PNG)
.PNG)
Kèm file: So lieu KTXH_thang_03_nam_2026.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/