Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng và hai tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì phát triển ổn định. . Khai thác thuỷ sản giữ ổn định. Hầu hết các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, giá bán giữ ổn định trong dịp Tết Nguyên đán 2026. Sản xuất công nghiệp trong tháng trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên các doanh nghiệp ngành khai khoáng; chế biến, chế tạo sản xuất không cao. Các ngành sản xuất, phân phối điện; cung cấp nước hoạt động ổn định. Hoạt động của các cơ sở kinh doanh trước, trong và sau Tết Nguyên đán ổn định; hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng cho Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp Tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Sau Tết Nguyên đán, tình hình thương mại của tỉnh đã trở lại bình thường; các chợ, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị đã mở cửa phục vụ sớm cho nhu cầu người dân địa phương và du khách. Hoạt động du lịch trong tháng diễn ra khá sôi động, lượng khách đến tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; các điểm du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch triển khai thực hiện tốt công tác phục vụ khách du lịch trong dịp Tết Nguyên đán. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời; các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý.
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản
Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng và hai tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì phát triển ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực xuống giống từ những tháng đầu năm, chủ yếu là lúa, rau màu, cây ngắn ngày, đảm bảo đúng tiến độ thời vụ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống. Khai thác thuỷ sản giữ ổn định. Hầu hết các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, giá bán giữ ổn định trong dịp Tết Nguyên đán 2026.
1. Trồng trọt
1.1. Cây hàng năm
Vụ Đông xuân năm 2026 được triển khai đúng lịch thời vụ; diện tích gieo trồng tăng so với vụ Đông xuân năm trước. Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng diện tích cây có giá trị kinh tế cao như rau, hoa. Tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 15/02/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 100.942,7 ha, tăng 2,94% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 52.524,7 ha, tăng 2,39% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 5.607 ha, tăng 2,67%; rau các loại, diện tích ước đạt 31.280,8 ha, tăng 3,81%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.362,7 ha, tăng 3,47%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.749,1 ha, tăng 3,55%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 2.711 ha, tăng 3,53%. Diện tích rau, hoa tăng chủ yếu do nông dân tập trung xuống giống phục vụ nhu cầu Tết Nguyên đán của người dân. Các loại rau phục vụ Tết tập trung vào các nhóm rau truyền thống như: Rau ăn lá, rau ăn củ, rau ăn quả, đồng thời mở rộng các dòng rau cao cấp có giá trị kinh tế cao; nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi trong giai đoạn gần Tết, sản xuất rau sinh trưởng ổn định, bảo đảm sản lượng và chất lượng phục vụ kịp thời thị trường Tết.

1.2. Cây lâu năm
Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm; thị trường tiêu thụ, giá bán một số loại cây chủ lực của tỉnh nhìn chung có lợi cho người sản xuất. Cụ thể một số loại cây chính như sau:
- Cây chè: Diện tích hiện có 9.310 ha, giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...;
- Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.745 ha, tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...;
- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.230 ha, tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích;
- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.239 ha, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;
- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.850 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác;
- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.340 ha, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện.
1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất
Trong những tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai đồng bộ, bảo đảm nguồn nước phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Các địa phương chủ động kiểm tra, duy tu, nạo vét hệ thống kênh mương, hồ đập; xây dựng kế hoạch điều tiết nước hợp lý, đáp ứng yêu cầu tưới tiêu cho sản xuất vụ Đông xuân năm 2026. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm. Đồng thời, việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên nhằm hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn sản xuất và đời sống nhân dân. Nhìn chung, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình nông nghiệp trong những tháng đầu năm. Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 676,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 78,7% so với dung tích thiết kế.
1.4. Tình hình dịch bệnh
Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể:
- Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 267 ha; Bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha; chuột gây hại 160 ha; rầy nâu gây hại 69 ha;
- Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại rải rác ở tất cả các vùng trồng cà chua với diện tích gây hại 64 ha; sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 1,5 ha tại xã Hiệp Thạnh;
- Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha tại xã Đạ Tẻh 3;
- Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, Đắk Song, Thuận An, Đắk Mil, Đắk Sắk, Đức An, Thuận Hạnh, Đức Lập, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa;
- Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại chủ yếu ở xã Bảo Lâm và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác với diện tích nhiễm bệnh 1.660 ha; Bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha cà phê chè tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt;
- Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha và bệnh thán thư gây hại 2.828 ha tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3, Đam Rông 4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành;
- Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha, ốc sên gây hại 321 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương.
1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Đến nay, toàn tỉnh có 107.306 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao; có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); diện tích ứng dụng nông nghiệp thông minh đạt khoảng 1.200 ha; có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS).
2. Chăn nuôi
Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Nguồn cung thịt hơi, trứng và các sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán, đồng thời bảo đảm cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh, góp phần bình ổn giá cả và giữ vững ổn định thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 02/2026 đạt 28.950 tấn, tăng 7,54% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 58.229,6 tấn, tăng 8,39%.
- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao.
- Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,2 nghìn con bò, tăng 1,82% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,58%); quy mô đàn bò được duy trì và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, giá cả cơ bản thuận lợi; các cơ sở chăn nuôi chú trọng tái đàn có kiểm soát, cải thiện chất lượng con giống và đẩy mạnh áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
- Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.540 nghìn con, tăng 4,05% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của một số doanh nghiệp và chi nhánh chính thức đi vào hoạt động; đồng thời các trang trại chăn nuôi gia công tiếp tục mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi tiêu thụ.
- Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.420 nghìn con gia cầm, tăng 8,15% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 72,26% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,29%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

* Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh
- Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Tân Hội (xã cũ) phát sinh 01 hộ có lợn mắc bệnh, với số lợn bị tiêu hủy 05 con/94 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 1.085 con/52.022 kg và chỉ còn xã Tân Hội dịch bệnh chưa qua 21 ngày theo quy định.
- Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra.
- Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; hướng dẫn UBND xã Phúc Thọ Lâm Hà khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về phòng, chống bệnh DTLCP.
3. Sản xuất lâm nghiệp
Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung.
- Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.801 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 67.382,1 m3, tăng 1,25%.
- Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.631,1 ste, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 61.287 ste, tăng 1,41%.
- Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/01/2026 - 10/02/2026) là 52 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 25 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,4 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,3 ha). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/02/2026), tổng số vụ vi phạm là 120 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 42 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,5 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 0,3 ha).
4. Thuỷ sản
- Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, thời tiết thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 210,2 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 467,2 ha, tăng 0,03% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 420 ha, giảm 0,4%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 84 ha, tăng 4,24%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.360,5 tấn, tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 370 tấn, tăng 2,78%); lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.665,5 tấn, tăng 2,47% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 720 tấn, tăng 1,69%).
- Khai thác thủy sản: Trong tháng tàu thuyền khai thác tích cực bám biển đánh bắt thủy sản nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Những ngày đầu tháng tình hình thời tiết chưa thuận lợi, do ảnh hưởng của gió Đông Bắc; tuy nhiên nguồn lợi hải sản vẫn còn xuất hiện nhiều, đặc biệt là nguồn cá chỉ, cá cơm với mật độ dày nên tàu thuyền hoạt động đánh bắt hiệu quả cao, đều trên các tuyến. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 15.768 tấn, tăng 5,72% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 15.768 tấn, tăng 5,72%). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35.127,7 tấn, tăng 3,73% (sản lượng khai thác biển đạt 35.030 tấn, tăng 3,72%).

- Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định với sản lượng ước đạt 1,98 tỷ post, tăng 2,59% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,84 tỷ post, tăng 1,45%.
II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển
1. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trong tháng trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên các doanh nghiệp ngành khai khoáng; chế biến, chế tạo sản xuất không cao. Các ngành sản xuất, phân phối điện; cung cấp nước hoạt động ổn định. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp tăng trưởng khá tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước.
1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 16,5% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,90%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,98%.
Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,18%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,46%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,51%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,94%.

1.2. Một số sản phẩm chủ yếu
Trong tháng Hai và 02 tháng đầu năm 2026, các sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng trưởng tốt so với cùng kỳ, cụ thể một số sản phẩm chủ yếu như sau:
- Sản phẩm đá xây dựng: trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 176.919 m3, chỉ bằng 57,66 % so với tháng trước và tăng 9,23% so với cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 21,16%, nguyên nhân do tháng 02/2026 các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ thời gian kéo dài. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ và cộng dồn so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm.
- Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.174 tấn, tăng 6,51% so với tháng trước, tăng 52,08% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 57,53% do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất và để chủ động nguồn hàng trong các tháng trong năm.
- Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.478 tấn, giảm 12,13% so với tháng trước, giảm 15% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 2,46%, nguyên nhân do tháng này các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới.
- Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 25.018 nghìn lít, giảm 4,96% so với tháng trước nhưng tăng 7,43% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 19,84%. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng).
- Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 383 nghìn đôi, chỉ bằng 58,89% so với tháng trước nhưng tăng 17,81% so với tháng cùng kỳ và lũy kế 02 tháng năm 2026 tăng 52,87%, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tháng 02/2026 doanh nghiệp nghỉ Tết dài ngày và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm.
- Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 6.195 tấn, giảm 6,47% so với tháng trước nhưng tăng 23,38% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 48,19%. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đăk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025.
- Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 121 nghìn tấn, giảm 6,41% so với tháng trước và giảm 2,25% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 giảm 0,53%.
- Điiảm 0,53%. 1 Ước trong tháng sản lượng đạt 2.246,4 triệu kwh, giảm 16,28% so với tháng trước và giảm 2,0% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 5,26%.
- Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 472 triệu kwh, giảm 3,59% so với tháng trước nhưng tăng 4,4% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 4,84%. Do tháng 02/2026 nghỉ Tết dài ngày nên lượng điện thương phẩm giảm so với tháng trước (chủ yếu là điện sử dụng trong các nhà máy sản xuất công nghiệp).
1.3. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 5,27% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,98%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,89%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,93% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,79%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,27%.
Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,06% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,04%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,30%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,04%.
1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)
- KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%.
- KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%.
- KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%.
- KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,66 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%.
- KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,88 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%.
- KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%.
- KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%.
- KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%.
- KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%.
- Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2.
2. Đầu tư phát triển
Việc triển khai thực hiện hiệu quả vốn đầu tư công không những giúp tỉnh Lâm Đồng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của năm, mà còn tạo động lực cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030. Năm 2026, tỉnh Lâm Đồng dự kiến triển khai 43 dự án mới trên nhiều lĩnh vực và là các dự án trọng điểm không chỉ đơn thuần là xây dựng hạ tầng mà còn đóng vai chiến lược để khơi thông nguồn lực, tạo đột phá cho giai đoạn mới. Trong tháng trùng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nhưng với mục tiêu thực hiện 100% kế hoạch vốn đầu tư công nhiều công trình vẫn tiếp tục được triển khai thực hiện nhằm đảm bảo đúng tiến độ. Bên cạnh đó, tỉnh cũng giao kế hoạch vốn 2026 để khởi công cho 07 dự án mới đủ điều kiện thực hiện và tiếp tục thúc đẩy tiến độ hoàn thiện trình tự, thủ tục để sớm khởi công các dự án còn lại.
Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 590,8 tỷ đồng, giảm 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 555,4 tỷ đồng, giảm 0,46% (vốn cân đối ngân sách tỉnh tháng 02/2026 ước đạt 260,95 tỷ đồng, giảm 2,46% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 78,12 tỷ đồng, giảm 50,69% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 9 tỷ đồng, giảm 31,97% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 204,4 tỷ đồng, tăng 75,1% so với cùng kỳ; vốn khác 2,96 tỷ đồng, tăng 44,94% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 35,4 tỷ đồng, giảm 3,34% so với cùng kỳ.
Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.212,2 tỷ đồng, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.129,8 tỷ đồng, tăng 4,54% (vốn cân đối ngân sách tỉnh 02 tháng đầu năm ước đạt 528,41 tỷ đồng, tăng 2,49% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 161,14 tỷ đồng, giảm 46,97% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,19 tỷ đồng, giảm 25,92% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 414,53 tỷ đồng, tăng 79,15% so với cùng kỳ; vốn khác 6,54 tỷ đồng, tăng 61,88% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 82,4 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ.

Tình hình phát triển doanh nghiệp: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 900 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; 823 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,84%; 175 doanh nghiệp giải thể, gấp 2 lần; 386 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 16,62%. Tổng số vốn trong 02 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 3.242 tỷ đồng, giảm 1,84% so với cùng kỳ năm trước.
Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 07 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 54.320 tỷ đồng; 07 dự án xin điều chỉnh quy mô dự án, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện dự án và một số nội dung khác. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 2.935 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 828.274 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng).
III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải
1. Thương mại
Trong tháng, hoạt động của các cơ sở kinh doanh trước, trong và sau Tết Nguyên đán ổn định; hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng cho Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp Tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Sau Tết Nguyên đán, tình hình thương mại của tỉnh đã trở lại bình thường; các chợ, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị đã mở cửa phục vụ sớm cho nhu cầu người dân địa phương và du khách. Hoạt động du lịch trong tháng diễn ra khá sôi động, lượng khách đến tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; các điểm du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch triển khai thực hiện tốt công tác phục vụ khách du lịch trong dịp Tết Nguyên đán. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời; các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý.
1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ
Trong tháng, các ngành, lĩnh vực phát triển ổn định, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn. Công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân và du khách được triển khai chủ động, kịp thời, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Giá cả các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định; không xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn cung hay đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; góp phần bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp; hoạt động xúc tiến thương mại được tăng cường, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Nhờ đó, lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn cơ bản thông suốt; nguồn cung dồi dào, đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.172,3 tỷ đồng, tăng 13,17% so với tháng trước và tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.585,8 tỷ đồng, tăng 21,61% so với tháng trước và tăng 43,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 32.345,7 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 6.534,4 tỷ đồng, tăng 27,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 7.528,5 tỷ đồng, tăng 18,14% so với cùng kỳ năm trước; may mặc ước đạt 1.342,4 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 2.971,3 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.558,9 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.593,1 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước.
1.2. Công tác quản lý thị trường
Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm; các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Từ ngày 13/01 đến ngày 13/02/2026, tổng số vụ kiểm tra là 154 vụ, số vụ vi phạm là 153 vụ, số vụ xử lý là 167 vụ (01 vụ kỳ trước chuyển sang), số vụ đang xử lý là 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang). Tổng số tiền xử phạt là 1.647 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy là 522,73 triệu đồng.
2. Chỉ số giá tiêu dùng
Do tháng Hai có Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới; giá gas trong nước tăng theo giá gas thế giới; giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng dịch bệnh nên nguồn cung ít; giá ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2026 tăng 0,61% so với tháng trước; tăng 0,40% so với tháng 12/2025 và tăng 4,52% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 02 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước.
* CPI tháng Hai so với tháng trước
- Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,42%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,51%; Giao thông tăng 1,36%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,95%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,92%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%.
- Các nguyên nhân làm tăng/giảm CPI trong tháng
+ Nguyên nhân tăng: Giá gas trong tháng tăng 1,37% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 5.184 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (Giá gas thế giới bình quân tháng 02/2026 công bố ở mức 542,5 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với tháng 01/2026). Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 05, 12, 20 và 26 tháng 02/2026, tính bình quân chung tháng 02/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,01% so với tháng trước. Nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thực phẩm, đồ uống, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng ở mức 0,98% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước.
+ Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 10,12% so tháng trước, do đang vào vụ thu hoạch rau và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại. Giá nhóm lương thực giảm 0,58% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo tẻ thường và gạo tẻ ngon. Nguyên nhân, do nguồn cung thị trường nhiều và ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng.
* CPI bình quân 02 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025: tăng 4,40%.
- Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,99%, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 2 tháng đầu năm 2026 tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 8,63%, làm CPI chung tăng 1,95 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 14,98% do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 6,95%, do giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng. Do đó các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình có giá phụ thu trong dịp Tết tăng từ 20 - 30% so ngày thường như: Phở/bún/miến/mỳ, cơm bình dân, trà sữa, nước cam, các loại sinh tố trái cây, chè lipton…; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,84% do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,16%, làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên.
- Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,91% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,28 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,98%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,19%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian.

3. Hoạt động du lịch
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, tạo không khí vui tươi, phấn khởi phục vụ Nhân dân và du khách dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Nổi bật là Chợ hoa Xuân và mua sắm Tết “Lâm Đồng đại ngàn 2026”, Hội Tết Bính Ngọ, các chương trình nghệ thuật đặc sắc mừng xuân; Giải võ thuật cổ truyền tỉnh Lâm Đồng; Giải Việt dã - leo núi Tà Cú trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I; vòng loại “Race to Legends” thuộc Vietnam Legends Festival 2026; Giải Lướt ván buồm quốc tế Fun Cup lần thứ 25 năm 2026. Tại Di tích tháp Pô Sah Inư, các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian Chăm được tổ chức, góp phần quảng bá giá trị truyền thống và đáp ứng nhu cầu tham quan, thưởng lãm của người dân và du khách. Song song đó, nhiều doanh nghiệp lưu trú chủ động tổ chức các chương trình đón Tết đặc sắc nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách. Khu nghỉ dưỡng biển Asteria Mũi Né triển khai chuỗi hoạt động mừng Tết từ ngày 14/2 đến 22/2 (27 đến mùng 6 Tết) với không gian đậm phong vị Tết cổ truyền; The Cliff Resort & Residences tổ chức Lễ hội Bánh chưng lần thứ 13 năm 2026; Radisson Phan Thiết Resort xây dựng chương trình chủ đề “Tết Xưa” diễn ra từ ngày 15-19/2 (28 đến mùng 3 Tết); TTC World - Thung lũng Tình Yêu khởi động chuỗi hoạt động “Vui xuân rộn ràng - Lộc xuân gõ cửa”. Hoạt động lữ hành được chuẩn bị chủ động với các tour đầu năm phục vụ du khách. Hệ thống nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống duy trì hoạt động ổn định, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá công khai và tuân thủ quy định quản lý, góp phần giữ vững hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn.
Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.965,6 nghìn lượt, tăng 18,69% so tháng trước và tăng 40,16% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 82 nghìn lượt, tăng 17,95% so với tháng trước và tăng 33,85% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.664,1 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với tháng trước và tăng 42,38% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 190 nghìn lượt khách, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 39,05% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 588,8 nghìn ngày khách, tăng 6,03% so với tháng trước và tăng 43,25% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 3.621,6 nghìn lượt, tăng 27,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 151,5 nghìn lượt, tăng 24,69% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 6.752,1 nghìn ngày khách, tăng 30,06% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đạt 369,4 nghìn lượt, tăng 43,93% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.144,1 nghìn ngày khách, tăng 47,21% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 742,1 tỷ đồng, tăng 20,51% so với tháng trước và tăng 39,27% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.795,1 tỷ đồng, tăng 22,21% so với tháng trước và tăng 44,16% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 48,7 tỷ đồng, tăng 6,77% so với tháng trước và tăng 37,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.357,8 tỷ đồng, tăng 27,24% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 5.082,2 tỷ đồng, tăng 27,44% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 94,3 tỷ đồng, tăng 22,93% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.570,9 tỷ đồng, tăng 19,42% so với tháng trước và tăng 43,46% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 10.236,1 tỷ đồng, tăng 30,67% so với cùng kỳ năm trước.

4. Hoạt động dịch vụ khác
Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 738,6 tỷ đồng, giảm 1,81% so với tháng trước (nhu cầu mua bán và cho thuê bất động sản giảm hơn so với tháng trước do rơi vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán) và tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 186,6 tỷ đồng, tăng 11,43% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu ở các nhóm ngành cho thuê xe ô tô, xe máy và máy móc thiết bị thể thao...); Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 150,1 tỷ đồng, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 26,31% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 252,6 tỷ đồng, tăng 6,34% so với tháng trước và tăng 29,53% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, tăng 17,95% so với tháng trước (trong tháng các khu vui chơi giải trí hoạt động khá nhộn nhịp nhằm phục vụ cho người dân và du khách dịp nghỉ tết) và tăng 29,82% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,2 tỷ đồng, tăng 19,97% so với tháng trước (nhu cầu sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình dịp trước tết tăng khá, bên cạnh đó nhu cầu làm đẹp để đón tết cũng tăng hơn) và tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 1.490,7 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 354,4 tỷ đồng, tăng 18,59% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 300,3 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 490,1 tỷ đồng, tăng 17,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.696,2 tỷ đồng, tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 610,8 tỷ đồng, tăng 11,69% so với cùng kỳ năm trước.
5. Hoạt động vận tải
Trong tháng các đơn vị kinh doanh du lịch đã tích cực phục vụ du khách trong dịp Tết Nguyên đán. Lượng khách du lịch nhất là khách nội địa đến tham quan và nghỉ dưỡng tại Lâm Đồng tăng hơn so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ (do Tết Nguyên đán năm trước diễn ra trong tháng 01). Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.078,0 nghìn HK, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 437.365,1 nghìn HK.Km, tăng 9,98% so với tháng trước và tăng 27,65% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 5.833,6 nghìn HK, tăng 23,24% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 835.058,4 nghìn HK.Km, tăng 23,17% so với cùng kỳ năm trước.
- Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.242,2 nghìn tấn, tăng 12,46% so với tháng trước và tăng 31,04% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 327.299,7 nghìn tấn.Km, tăng 11,55% so với tháng trước và tăng 30,6% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 4.236,0 nghìn tấn, tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 620.710,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,64% so với cùng kỳ năm trước.

- Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.242,6 tỷ đồng tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.344,6 tỷ đồng, tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 793,9 tỷ đồng, tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.138,9 tỷ đồng, tăng 22,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 319,7 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 92,1 tỷ đồng, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước.
- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 420 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 344,3 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá).
IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng
1. Thu ngân sách nhà nước
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 1.159 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.273,4 tỷ đồng, bằng 21,12% kế hoạch năm và tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 6.812,9 tỷ đồng, bằng 20,85% kế hoạch năm và tăng 16,43% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 338,2 tỷ đồng, bằng 19,21% kế hoạch năm và tăng 67,39% so với cùng kỳ năm trước.

Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 02 tháng đầu năm 2026: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 849 tỷ đồng (bằng 22,31% kế hoạch năm và tăng 21,99% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 601 tỷ đồng (bằng 43,56% kế hoạch năm và tăng 65,94%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.042 tỷ đồng (bằng 30,53% kế hoạch năm và tăng 60,28%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 442 tỷ đồng (bằng 16,20% kế hoạch năm và giảm 22,36%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 669 tỷ đồng (bằng 9,07% kế hoạch năm và tăng 19,88%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.596 tỷ đồng (bằng 27,51% kế hoạch năm và giảm 2,06%).
2. Chi ngân sách Nhà nước
Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.224 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước 7.224 tỷ đồng, bằng 14,81% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 560 tỷ đồng, bằng 4,24% kế hoạch năm; chi thường xuyên 5.395 tỷ đồng, bằng 17,77% kế hoạch năm.
3. Hoạt động tín dụng
Công tác huy động vốn: đến 31/01/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 234.498 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 5.223 tỷ đồng[2], với tỷ lệ tăng 2,20%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 231.781 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.717 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước 28/02/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.800 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.525 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,28%.
Hoạt động tín dụng: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.456 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 473 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.861 tỷ đồng (chiếm 99,30% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.595 tỷ đồng (chiếm 0,70% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.875 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 106.581 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 28/02/2026, dư nợ cho vay đạt 371.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%.
Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,33% - 0,37%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 4,3% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,93% - 7,36%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,84% - 7,06%/năm; lãi suất huy động USD: 0%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4,00%/năm; cho vay đối với các khoản vay mới ở mức 7,37% - 9,74%/năm. Lãi suất cho vay USD đối với các khoản cho vay mới ở mức 3,97% - 4,19%/năm.
Dư nợ cho vay: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 188.722 tỷ đồng, chiếm 50,81% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.235 tỷ đồng, chiếm 8,68% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 150.499 tỷ đồng, chiếm 40,51% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.675 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng.
V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội
1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao
1.1. Hoạt động văn hóa
- Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 trên các tuyến đường chính, khu vực trung tâm các xã, phường, đặc khu; tổ chức tuyên truyền công tác đảm bảo an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng, chống gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng hóa kém chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người dân vui Xuân đón Tết.
- Hoạt động văn hóa, văn nghệ:
Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ 2026: Chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tại 11 địa phương trên địa bàn tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân và du khách từ mùng 01 đến mùng 03 Tết; tổ chức chiếu phim, chương trình văn nghệ và Hội Báo xuân tại Trại giam Đại Bình; Hội chợ hoa xuân và mua sắm Tết; Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ; triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng”; Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026; bên cạnh đó, các địa phương đã tổ chức Giải đua truyền thống tại đặc khu Phú Quý, Lễ hội Lồng Tồng tại xã Cát Tiên 2, Lễ hội cúng bến nước tại xã Quảng Khê,... Ngoài ra, đã thực hiện 21 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né).
- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:
+ Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Đón 34.073 lượt khách, trong đó có 3.674 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 12.556 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 7.914 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.297 lượt; Cơ sở 1 - Đông Lâm Đồng: 11.931 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 375 lượt). Ngoài ra, đã tổ chức thu thập tư liệu về lễ tấu chức hệ phái thầy vỗ (Muduen) - trống Baranung trong lễ hội Rija của người Chăm tại xã Bắc Bình phục vụ công tác thuyết minh, giới thiệu khách tham quan, nghiên cứu tại Trung tâm trưng bày văn hóa Chăm; đồng thời duy trì thường xuyên các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian phục vụ du khách tại Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm; di tích Tháp Pô Sah Inư; di tích Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt và di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên.
+ Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 77 đoàn với 5.373 lượt người, trong đó có 105 khách nước ngoài. Phục vụ 08 lễ viếng và 01 buổi xem phim tư liệu. Tổ chức các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026). Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những chặng đường cách mạng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh.
+ Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.050 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại nhà Tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích.
- Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 149 thẻ (34 thẻ thiếu nhi); phục vụ 249.629 lượt bạn đọc; luân chuyển 34.997 lượt tài liệu; bổ sung 782 bản sách từ nguồn biếu tặng; số hóa 3.959 trang tài liệu. Trưng bày theo chuyên đề 05 đợt với 2.982 tài liệu; trưng bày, giới thiệu 133 bản sách mới; cập nhật 241 tin bài lên trang website và phát hành 02 tập Thông tin Tư liệu Lâm Đồng - Khu vực Đông Lâm Đồng với 190 tin bài.
1.2. Hoạt động thể thao
- Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Việt dã - Leo núi, thuộc khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 gắn với Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026 tại Khu du lịch Cáp treo Tà Cú, xã Hàm Thuận Nam; Giải Đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng Xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; tổ chức Đại hội Thể dục thể thao ngành Giáo dục lần thứ I năm 2026; doanh nghiệp tư nhân Trăng Tròn tổ chức Giải Lướt ván buồm lần thứ 25 - Mui Ne Fun Cup. Ngoài ra, đã thành lập đội bóng đá nữ dân tộc thiểu số tham gia thi đấu “Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số lần thứ nhất - năm 2026”.
- Thể thao thành tích cao: Số huy chương đạt được từ đầu năm tính đến 13/02/2026: Đạt 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ).
2. Giáo dục và đào tạo
Tiếp tục chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục; tăng cường giáo dục thể chất, hoạt động thể thao, y tế học đường, rèn luyện đạo đức, kỹ năng sống và bảo đảm an toàn trường học.
Trong tháng, đã tổ chức Chương trình trao học bổng cho học sinh-sinh viên nghèo học giỏi do Tập đoàn CJ CheilJedang tài trợ cho 100 học sinh, sinh viên với tổng giá trị 510 triệu đồng. Phối hợp với Quỹ vì Trẻ em khuyết tật Việt Nam tổ chức trao tặng học bổng cho 82 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ với tổng số tiền 205 triệu đồng, trao học bổng “Hoa Xương Rồng” năm 2026 cho 200 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập, với tổng giá trị học bổng 1.000 triệu đồng.
Cuối học kỳ I năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.592 cơ sở giáo dục và đào tạo, bao gồm: 525 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 125 ngoài công lập); 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập và 06 ngoài công lập); 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập và 02 ngoài công lập); 122 trường trung học phổ thông, trong đó 02 trường phổ thông dân tộc nội trú; 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông; 11 trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông; 100 trường trung học phổ thông; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ, Tin học; 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập; 02 trường trung cấp (ngoài công lập). Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Đến nay, 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh có cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo đạt 90,45%, riêng trẻ 5 - 6 tuổi đạt 99,79%.
Toàn tỉnh có 79 cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (GDNN): 06 trường cao đẳng (trong đó 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 29 trung tâm GDNN (13 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 đơn vị GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên.
3. Y tế
Trong tháng tập trung cho công tác chăm sóc sức khỏe người dân, xây dựng phương án sẵn sàng ứng phó với các tình huống của dịch bệnh; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, qua đó góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe để người dân vui Xuân đón Tết.
* Tình hình dịch bệnh xảy ra trong tháng
- Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 447 ca mắc, giảm 179 ca so với tháng trước và tăng 179 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.073 ca mắc. Trong tháng triển khai giám sát lăng quăng tại 71 điểm, đã phát hiện và xử lý 47 ổ dịch.
- Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện trường hợp mắc bệnh sốt rét; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 01 ca mắc sốt rét ngoại lai.
- Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 336 ca mắc, tăng 10 ca so với tháng trước và tăng 312 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 662 ca mắc.
- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 07 ca mắc, giảm 02 ca so với tháng trước và giảm 985 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 16 ca mắc.
- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.181 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.245 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.272 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.044 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.262 trẻ, mũi 2 cho 3.491 trẻ và mũi 3 cho 1.932 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 2.865 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.
- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 445 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; 11 bệnh nhân đang giám sát; chăm sóc tàn tật cho 438 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người.
- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 212 người, bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) là 163 người, bệnh nhân lao kháng thuốc phát hiện, thu nhận là 05 người.
- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.795 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.784 người.
- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 437.951 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 32.826 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 203.704 ngày, xét nghiệm cho 497.033 tiêu bản, chẩn đoán 116.224 hình ảnh và phẫu thuật 4.323 trường hợp. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 916.211 lượt người; 69.835 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 424.046 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%; đã xét nghiệm cho 1.067.100 tiêu bản; chẩn đoán 255.941 hình ảnh và phẫu thuật cho 9.460 trường hợp.
Tình hình khám chữa bệnh trong 07 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 từ ngày 16/02/2026 (ngày 29 âm lịch) đến hết ngày 22/02/2026 (Mùng 6 âm lịch): Tổng số bệnh nhân khám bệnh, cấp cứu là 6.528 người (tăng 1.614 người so với năm 2025); trong đó: Tai nạn giao thông đến điều trị 629 người (có 02 trường hợp tử vong tại bệnh viện và 03 trường hợp tử vong trên đường đến cơ sở y tế); tại nạn do pháo nổ 11 người (có 06 trường hợp nhập viện điều trị).
- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.301 cơ sở, kết quả có 18 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 76,0 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.
4. Thông tin, báo chí, xuất bản
- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương, địa phương và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Chủ động cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh.
- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Ban hành Kế hoạch công tác thông tin đối ngoại tỉnh Lâm Đồng và triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại năm 2026.
- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 01 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.
5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công
5.1. Chính sách dân tộc
- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, công tác an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, đồng bào các DTTS đón Tết trong không khí vui tươi, phấn khởi. Các địa phương tổ chức lễ hội truyền thống, giao lưu cồng chiêng tại các buôn làng trong dịp Tết và tổ chức chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân” mang đậm bản sắc dân tộc; tại một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa để phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân.
- Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng đồng bào DTTS. Bên cạnh đó, tỉnh đã thăm, chúc Tết đối với cán bộ, chiến sĩ, công chức, người lao động và người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS, trong đó triển khai thực hiện chính sách đối với 883 người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS với tổng kinh phí 441,5 triệu đồng, qua đó kịp thời động viên, khích lệ, phát huy vai trò nòng cốt của người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, qua đó bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng.
5.2. Chính sách tôn giáo
Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự GHPGVN tỉnh tổ chức Khánh tuế ân 2 sư, chúc thọ một số phật tử cao niên tại địa phương; một số nhà thờ, giáo xứ tham gia Hội chợ không đồng; tổ chức các gian hàng ẩm thực, phiên chợ đầu xuân và các trò chơi dân gian, bốc thăm trúng thưởng; lễ mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ cầu cho ông bà ngày Tết… Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức các đoàn đi thăm, chúc mừng và động viên một số chức sắc, cơ sở thờ tự tiêu biểu, các cơ sở tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với các tổ chức tôn giáo. Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân.
5.3. Chính sách người có công
Trong tháng, tỉnh đã chú trọng chăm lo Tết cho người dân, thực hiện an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, gia đình bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, đồng bào vùng sâu, vùng xa, người có công với cách mạng, người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 153.774,6 triệu đồng (quà và tiền mặt) hỗ trợ; trong đó: 114.302,98 triệu đồng hỗ trợ cho người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội,…
Nhìn chung, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ và các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, đối tượng khó khăn,... luôn được lãnh đạo, chính quyền và cộng đồng quan tâm, góp phần cho người có công, gia đình liệt sĩ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội đón Tết vui tươi, đầm ấm.
6. Hoạt động bảo hiểm
Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/01/2026, toàn tỉnh có 308.982 người tham gia BHXH, tăng 0,28% so với tháng trước; có 221.748 người tham gia BHTN, giảm 6,0%; số người tham gia BHYT là 2.790.785 người, giảm 6,94% so với tháng trước (giảm do xã Phước Thể cũ không còn là xã đảo nên người dân không được hưởng lợi BHYT miễn phí và Hộ NLTS có thu nhập trung bình chưa được phê duyệt cấp thẻ BHYT). Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 82,38% dân số.
Trong tháng 01 năm 2026, đã giải quyết mới 8.800 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.270 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 196 người; trợ cấp 1 lần cho 1.637 người; chế độ ốm đau cho 5.394 người; chế độ thai sản cho 1.259 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 314 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.192 người và hỗ trợ học nghề cho 78 người).
7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026)
Trong tháng xảy ra 88 vụ tai nạn giao thông, tăng 26 vụ so với tháng trước và tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 45 người, tăng 11 người so với tháng trước và tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 67 người, tăng 22 người so với tháng trước và tăng 10 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 150 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 79 người, tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 112 người, giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước.
8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường
- Thiên tai: Trong tháng không xảy ra thiên tai. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 01 vụ, chưa thống kê giá trị thiệt hại.
- Cháy, nổ: Từ ngày 16/01 đến ngày 15/02/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, giảm 5 vụ so với tháng trước và giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40,0 triệu đồng. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, tăng 6 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40 triệu đồng; không có thiệt hại về người.
- Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ vi phạm, giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 210 triệu đồng.
* Đánh giá chung
Trong 02 tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của cả năm. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, diện tích gieo trồng bảo đảm kế hoạch; chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, không phát sinh dịch bệnh lớn. Khu vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ.
Hoạt động thương mại - dịch vụ diễn ra sôi động, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 16,09%, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả cơ bản ổn định. Du lịch phục hồi mạnh mẽ với lượng khách tăng 27,96% và doanh thu tăng 30,67%, cho thấy sức hấp dẫn và năng lực phục vụ của địa phương ngày càng được nâng cao. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 20,15% so với cùng kỳ, bảo đảm nguồn lực cho chi đầu tư phát triển và các nhiệm vụ an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh.
Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm; công tác chăm lo Tết cho Nhân dân được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần giữ vững ổn định xã hội. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Tuy vậy, một số lĩnh vực vẫn chịu tác động của biến động thị trường và yếu tố thời tiết; tiến độ triển khai một số dự án và giải ngân vốn đầu tư công cần tiếp tục được đẩy nhanh để tạo động lực tăng trưởng bền vững trong thời gian tới.
TKT Lâm Đồng
.JPG)
.JPG)
.JPG)
.JPG)
Kèm file: Số liệu KTXH tháng 02 năm 2026.pdf
TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:
Trang:
/