TIN HOẠT ĐỘNG NGÀNH
Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2018 toàn quốc

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,15% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,78%; khu vực dịch vụ chiếm 41,82%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,25% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 15,06%; 32,75%; 41,82%; 10,37%)...

1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2018 ước tính tăng 7,08% so với cùng kỳ năm trước (Quý I tăng 7,45%; quý II tăng 6,79%), là mức tăng cao nhất của 6 tháng kể từ năm 2011 trở về đây khẳng định tính kịp thời và hiệu quả trong việc Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các cấp, các ngành, các địa phương cùng nỗ lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2018. Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,93%, đóng góp 9,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 9,07%, đóng góp 48,9%; khu vực dịch vụ tăng 6,90%, đóng góp 41,4%.

Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng 6 tháng năm nay cao nhất trong giai đoạn 2012-2018, trong đó ngành nông nghiệp tiếp tục khẳng định xu hướng phục hồi rõ nét khi đạt mức tăng 3,28%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm vào tốc độ tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; ngành thủy sản đạt kết quả khá tốt với mức tăng 6,41%, cũng là mức tăng trưởng cao nhất 8 năm qua, đóng góp 0,21 điểm phần trăm; ngành lâm nghiệp tăng 5,12%, cao hơn mức tăng 4,31% của cùng kỳ năm trước nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,04 điểm phần trăm.

Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 9,28%, cao hơn nhiều mức tăng 7,01% và 5,42% của cùng kỳ năm 2016 và năm 2017, đóng góp 3,05 điểm phần trăm vào tốc độ tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Điểm sáng của khu vực này là sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng 13,02% (là mức tăng cao nhất trong 7 năm gần đây), đóng góp 2,63 điểm phần trăm. Trong khi đó, công nghiệp khai khoáng vẫn tăng trưởng âm (giảm 1,3%), làm giảm 0,1 điểm phần trăm mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm nhưng mức giảm đã thu hẹp đáng kể so với mức giảm 7,8% của cùng kỳ năm trước. Ngành xây dựng 6 tháng đầu năm duy trì được mức tăng trưởng khá với tốc độ 7,93%, đóng góp 0,48 điểm phần trăm.

Khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm tăng 6,90%, là mức tăng trưởng cao nhất 7 năm gần đây. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,21% so với cùng kỳ năm trước, là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong khu vực dịch vụ, cũng là ngành có đóng góp lớn nhất vào mức tăng của tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,86 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,58%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 7,02%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 7,67%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 4,12%, đóng góp 0,25 điểm phần trăm.

Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,15% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,78%; khu vực dịch vụ chiếm 41,82%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,25% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2017 là: 15,06%; 32,75%; 41,82%; 10,37%).

Xét về góc độ sử dụng GDP 6 tháng đầu năm, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,13% so với cùng kỳ năm 2017; tích lũy tài sản tăng 7,06%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 15,72%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,83%.

2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Sản xuất nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2018 đạt kết quả khá tốt. Thời tiết thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, đặc biệt là cây lúa. Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3.102,2 nghìn ha, bằng 99,5% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.127,6 nghìn ha, bằng 98,5%; các địa phương phía Nam đạt 1.974,6 nghìn ha, bằng 100,1%. Diện tích lúa đông xuân những năm gần đây có xu hướng thu hẹp dần, chủ yếu do nhiều địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa sang sử dụng cho mục đích khác. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 66,2 tạ/ha, tăng 3,9 tạ/ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,5 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn.

Tính đến trung tuần tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.891,1 nghìn ha lúa hè thu, bằng 98,3% cùng kỳ năm trước (vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.528,5 nghìn ha, bằng 98,3%), chủ yếu do ảnh hưởng từ tiến độ gieo trồng và thu hoạch vụ đông xuân năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước. Đến nay đã có 190,6 nghìn ha lúa hè thu sớm tại Đồng bằng sông Cửu Long cho thu hoạch, bằng 52,6% cùng kỳ năm 2017.

Đến giữa tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 552,4 nghìn ha ngô, bằng 94,4% cùng kỳ năm trước; 81,1 nghìn ha khoai lang, bằng 88,5%; 32 nghìn ha đậu tương, bằng 85,6%; 144,1 nghìn ha lạc, bằng 96,5%; 722,3 nghìn ha rau, đậu, bằng 103,5%.

Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm tăng so với cùng kỳ năm trước: Chè đạt 472,3 nghìn tấn, tăng 3,7%; điều đạt 255,9 nghìn tấn, tăng 30%; hồ tiêu đạt 263,6 nghìn tấn, tăng 6,5%. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá: Nho đạt 15,7 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2017; xoài đạt 479,1 nghìn tấn, tăng 6,9%.

Chăn nuôi trâu, bò và gia cầm nhìn chung phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát. Riêng chăn nuôi lợn những tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn trong khâu tiêu thụ nhưng từ tháng Tư giá thịt lợn đã tăng trở lại. Tính đến tháng Sáu, đàn trâu cả nước giảm 1% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò tăng 2,2%; đàn gia cầm tăng 5,2%; đàn lợn giảm 3%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm đạt 50,8 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi đạt 185,4 nghìn tấn, tăng 2,8%; sản lượng thịt lợn hơi đạt 2,2 triệu tấn, giảm 1%; thịt gia cầm đạt 608,4 nghìn tấn, tăng 6,1%; trứng gia cầm đạt 6,3 tỷ quả, tăng 11,3%; sản lượng sữa tươi đạt 470 nghìn tấn, tăng 8,1%. Tính đến ngày 27/6/2018 cả nước không còn dịch bệnh trên gia súc, gia cầm.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng tập trung 6 tháng ước tính đạt 101,6 nghìn ha, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 36,7 triệu cây, tăng 0,1%; sản lượng củi khai thác đạt 13,1 triệu ste, giảm 1,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 5.444 nghìn m3, tăng 9,1%, trong đó chủ yếu là gỗ rừng trồng đến kỳ khai thác.

Trong 6 tháng đầu năm 2018, cả nước có 555 ha rừng bị thiệt hại, giảm 36,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 158,5 ha, giảm 55,3%; diện tích rừng bị chặt phá là 396,5 ha, giảm 23,9%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm ước tính đạt 3.561,1 nghìn tấn, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2.676,8 nghìn tấn, tăng 5,7%; tôm đạt 370,4 nghìn tấn, tăng 9,5%; thủy sản khác đạt 513,9 nghìn tấn, tăng 2,7%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đạt 1.793,5 nghìn tấn, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.310,2 nghìn tấn, tăng 6,1%; tôm đạt 292,6 nghìn tấn, tăng 11,2%; thủy sản khác đạt 190,7 nghìn tấn, tăng 1,7%. Diện tích nuôi cá tra của cả nước 6 tháng đầu năm ước tính đạt 14,3 nghìn ha, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng đạt 603,1 nghìn tấn, tăng 8,1%. Sản lượng tôm sú 6 tháng ước tính đạt 106,3 nghìn tấn, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2017; sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt khá với 151,9 nghìn tấn, tăng 14,5%.

Sản lượng thủy sản khai thác 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1.767,6 nghìn tấn, tăng 5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.366,6 nghìn tấn, tăng 5,4%; tôm đạt 77,8 nghìn tấn, tăng 3,6%; thủy sản khác đạt 323,2 nghìn tấn, tăng 3,3%. Trong đó, sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 1.684,7 nghìn tấn, tăng 5,2% (cá đạt 1.310,2 nghìn tấn, tăng 5,7%; tôm đạt 71,4 nghìn tấn, tăng 3,3%).

3. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trong tháng đạt mức tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu ước tính tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 3,6%; ngành chế biến, chế tạo tăng 15,5%; sản xuất và phân phối điện tăng 10%; cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 8%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,5% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 7% của cùng kỳ năm 2017. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng dẫn dắt tăng trưởng chung của toàn ngành với mức tăng 12,7%, đóng góp 9,7 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,4%, đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 1,3% (chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,7%), làm giảm 0,2 điểm phần trăm.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp: Sản xuất kim loại tăng 20,7%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 20,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 18,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 17,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 16,2%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc lá tăng 2,7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 2,6%; khai khoáng khác (đá, cát, sỏi…) giảm 0,7%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 2,7%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 5,7% (khai thác dầu thô giảm 10,9% và khai thác khí đốt tự nhiên giảm 0,2%).

Chỉ số tiêu thụ toàn ngành chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm 2018 tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 tăng 8,4%). Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 30/6/2018 ước tính tăng 11,4% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2017 tăng 10,4%); tỷ lệ tồn kho toàn bình quân 6 tháng là 63,4%, là mức tồn kho thấp nhất những năm qua.

4. Hoạt động của doanh nghiệp

a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm nay, cả nước có 64.531 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng vốn đăng ký là 649 nghìn tỷ đồng, tăng 5,3% về số doanh nghiệp và tăng 8,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 10,1 tỷ đồng, tăng 3,4%. Nếu tính cả 1.192,2 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung thêm vào nền kinh tế trong 6 tháng năm 2018 là 1.841,2 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 16.449 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng lên gần 81 nghìn doanh nghiệp. Tổng số lao động đăng ký của các doanh nghiệp thành lập mới 6 tháng là 508,5 nghìn người, giảm 18,9% so với cùng kỳ năm trước.

Số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2018 là 52.803 doanh nghiệp, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm 17.984 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 25,1% và 34.819 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động không đăng ký hoặc chờ giải thể, tăng 48%. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong 6 tháng đầu năm 2018 là 6.629 doanh nghiệp, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 6.053 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, chiếm 91,3% và tăng 20,6%.

b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp

Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2018 cho thấy: Có 45% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm nay tốt hơn quý trước; 17,4% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 37,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định. Dự kiến quý III so với quý II năm nay, có 52,5% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 11,5% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 36% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định.

5. Hoạt động dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm ước tính đạt 2.120,9 nghìn tỷ đồng, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 8,3% (cao hơn mức tăng 7,9% của cùng kỳ năm 2017). Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm ước tính đạt 1.597,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,3% tổng mức và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 260,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,3% tổng mức và tăng 9,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 19,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,9% tổng mức và tăng 19,5%; doanh thu dịch vụ khác đạt 243 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,5% tổng mức và tăng 7,3%.

Vận tải hành khách 6 tháng đầu năm đạt 2.262,4 triệu lượt khách, tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước và 100,2 tỷ lượt khách.km, tăng 10,6%. Vận tải hàng hóa đạt 796,2 triệu tấn, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước và 147,9 tỷ tấn.km, tăng 6,6%.

Doanh thu hoạt động viễn thông 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 188,3 nghìn tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính đến cuối tháng 6/2018, tổng số thuê bao điện thoại ước tính đạt 126,9 triệu thuê bao, tăng 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó thuê bao di động là 119,4 triệu thuê bao, tương đương với cùng kỳ năm trước; thuê bao internet băng rộng cố định ước tính đạt 12,6 triệu thuê bao, tăng 25,4%.

Khách quốc tế đến nước ta 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 7.891,5 nghìn lượt người, tăng 27,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 6.369,6 nghìn lượt người, tăng 22,2%; đến bằng đường bộ đạt 1.348,2 nghìn lượt người, tăng 63,7%; đến bằng đường biển đạt 173,7 nghìn lượt người, tăng 1,7%. Trong 6 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta từ châu Á đạt 6.067,2 nghìn lượt người, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khách đến từ Trung Quốc đạt 2.568,8 nghìn lượt người, tăng 36,1%; Hàn Quốc 1.713,6 nghìn lượt người, tăng 60,7%); khách đến từ châu Âu ước tính đạt 1.087,5 nghìn lượt người, tăng 11%; khách đến từ châu Mỹ đạt 493 nghìn lượt người, tăng 13,5%; khách đến từ châu Úc đạt 223,1 nghìn lượt người, tăng 10%; khách đến từ châu Phi đạt 20,8 nghìn lượt người, tăng 22,2%.

6. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm

Tính đến thời điểm 20/6/2018, tổng phương tiện thanh toán tăng 7,96% so với cuối năm 2017 (cùng kỳ năm trước tăng 5,69%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 7,78% (cùng kỳ năm 2017 tăng 5,89%); tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2018 đạt 6,35% (cùng kỳ năm trước tăng 7,54%). Mặt bằng lãi suất được giữ ổn định, lãi suất cho vay phổ biến ở mức 6%-9%/năm đối với ngắn hạn (khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, mức tín nhiệm cao, lãi suất cho vay từ 4%-5%/năm); 9%-11%/năm đối với trung và dài hạn.

Thị trường bảo hiểm 6 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng tích cực. Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng ước tính tăng 23% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó: Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ tăng 32%; doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ tăng 13%.

7. Đầu tư phát triển

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 theo giá hiện hành ước tính đạt 747,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 32,9% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 249,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,4% tổng vốn và tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 308,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 41,3% và tăng 17,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 189,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,3% và tăng 8,5%.

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng ước tính đạt 124,2 nghìn tỷ đồng, bằng 36% kế hoạch năm và tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2017 bằng 36,9% và tăng 6,1%), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 22,8 nghìn tỷ đồng, bằng 34,6% kế hoạch năm và giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 101,4 nghìn tỷ đồng, bằng 36,3% kế hoạch năm và tăng 14,1%.

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/6/2018 thu hút 1.366 dự án cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11.799,8 triệu USD, tăng 15,5% về số dự án và giảm 0,3% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017. Bên cạnh đó, có 507 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4.434,2 triệu USD, giảm 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 6 tháng đạt 16.234 triệu USD, giảm 4,4% so với cùng kỳ năm 2017. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm ước tính đạt 8,37 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2017. Trong 6 tháng năm 2018 còn có 2.749 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,1 tỷ USD, tăng 82,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó có 390 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 1,4 tỷ USD và 2.359 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,7 tỷ USD.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 6 tháng năm nay có 67 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư của phía Việt Nam là 222,5 triệu USD; 16 dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm là 40,6 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 6 tháng đầu năm 2018 đạt 263,1 triệu USD, trong đó lĩnh vực tài chính, ngân hàng đạt 106,2 triệu USD, chiếm 40,4% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 63,7 triệu USD, chiếm 24,2%; lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 48,9 triệu USD, chiếm 18,6%. Trong 6 tháng có 27 quốc gia, vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó dẫn đầu là Lào chiếm 31,9% tổng vốn đầu tư; Xlô-va-ki-a chiếm 13,7%; Cam-pu-chia chiếm 12,3%.

8. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2018 ước tính đạt 582,1 nghìn tỷ đồng, bằng 44,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa 462,7 nghìn tỷ đồng, bằng 42,1%; thu từ dầu thô 27 nghìn tỷ đồng, bằng 75,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 92 nghìn tỷ đồng, bằng 51,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/6/2018 ước tính đạt 586 nghìn tỷ đồng, bằng 38,5% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 416 nghìn tỷ đồng, bằng 44,2%; chi trả nợ lãi 55,9 nghìn tỷ đồng, bằng 49,7%; riêng chi đầu tư phát triển mới bằng 27,8% dự toán năm tương ứng với 111,1 nghìn tỷ đồng.

9. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

a) Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 113,93 tỷ USD, tăng 16% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 33,07 tỷ USD, tăng 19,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 80,86 tỷ USD (chiếm 71% tổng kim ngạch xuất khẩu), tăng 14,5%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu 6 tháng đầu năm tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 6 tháng đầu năm nay có 20 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 85,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Điện thoại và linh kiện đạt 22,5 tỷ USD, tăng 15,4%; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 13,5 tỷ USD, tăng 15,7%; hàng dệt may đạt 13,4 tỷ USD, tăng 13,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt hơn 7,8 tỷ USD, tăng 30,6%; giày dép đạt 7,8 tỷ USD, tăng 10,6%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 4,1 tỷ USD, tăng 20,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 4,1 tỷ USD, tăng 12,4%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực chủ yếu vẫn thuộc về khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,7%; điện tử, máy tính và linh kiện 95,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng 89,7%; hàng dệt may 60,6%. Một số mặt hàng nông sản tuy lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá xuất khẩu bình quân giảm nên kim ngạch giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà phê đạt 2 tỷ USD, giảm 6% (lượng tăng 9,6%); cao su đạt 819 triệu USD, giảm 8,2% (lượng tăng 16,6%); hạt tiêu đạt 457 triệu USD, giảm 35,7% (lượng tăng 5,9%). Riêng dầu thô tính chung 6 tháng tiếp tục giảm mạnh về cả lượng và kim ngạch xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước mặc dù giá xuất khẩu bình quân tăng 37,3%: Kim ngạch xuất khẩu dầu thô đạt trên 1 tỷ USD, giảm 32,2% (lượng giảm 50,7%).

b) Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 6 tháng năm 2018 ước tính đạt 111,22 tỷ USD, tăng 10% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 46,01 tỷ USD, tăng 12,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 65,21 tỷ USD, tăng 8,1%. Nếu loại trừ yếu tố giá, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 6 tháng tăng 8,9% so với cùng kỳ năm 2017.

Trong 6 tháng năm nay có 23 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm 82% tổng kim ngạch nhập khẩu. Nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất, gia công, lắp ráp trong nước có kim ngạch tăng so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 19,7 tỷ USD, tăng 14,3%; vải đạt 6,4 tỷ USD, tăng 17,1%; sắt thép đạt 5 tỷ USD, tăng 8,3%; xăng dầu đạt 4,6 tỷ USD, tăng 38,8%; chất dẻo đạt 4,3 tỷ USD, tăng 19,8%; kim loại thường đạt 3,4 tỷ USD, tăng 16%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 2,9 tỷ USD, tăng 6,6%; hóa chất đạt 2,5 tỷ USD, tăng 26,4%. 

Cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm xuất siêu 2,71 tỷ USD, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 12,94 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 15,65 tỷ USD.

c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ

Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 7,5 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm 2017, trong đó dịch vụ du lịch đạt 5,2 tỷ USD (chiếm 69,1% tổng kim ngạch), tăng 18,9%; dịch vụ vận tải đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 18,7%), tăng 11,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng ước tính đạt 8,8 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,2 tỷ USD (chiếm 47,4% tổng kim ngạch), tăng 7,5%; dịch vụ du lịch đạt 2,7 tỷ USD (chiếm 31%), tăng 9,4%. Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng là 1,3 tỷ USD, bằng 18% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.

10. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2018 tăng 0,61% so với tháng trước, là tháng Sáu có CPI tăng cao nhất trong 7 năm qua. Có 10/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, trong đó nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăng cao nhất 1,08%, chủ yếu do nhóm thực phẩm tăng 1,75% trong khi nhóm lương thực giảm 0,45%. Nhóm giao thông tăng 1,04% do giá xăng dầu tăng 2,38%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,65%, chủ yếu do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,2% và thời tiết nắng nóng nên nhu cầu sử dụng điện, nước tăng cao. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; nhóm giáo dục tăng 0,11% (dịch vụ giáo dục tăng 0,15%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,09%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình, thuốc và dịch vụ y tế cùng tăng 0,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,11% so với tháng trước.

CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 3,29% so với bình quân cùng kỳ năm 2017; CPI tháng 6/2018 tăng 2,22% so với tháng 12/2017 và tăng 4,67% so với cùng kỳ năm trước.

Lạm phát cơ bản tháng 6/2018 tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2018 tăng 1,35% so với bình quân cùng kỳ năm 2017.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng tháng 6/2018 giảm 0,79% so với tháng trước; tăng 2,08% so với tháng 12/2017 và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2018 tăng 0,2% so với tháng trước; tăng 0,46% so với tháng 12/2017 và tăng 0,52% so với cùng kỳ năm 2017.

c) Chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá xuất nhập khẩu

Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất 6 tháng đầu năm tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 0,37%; chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 2,83%; chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 2,74%; chỉ số giá cước vận tải, kho bãi tăng 3,16%.

Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm tăng 0,71% so với cùng kỳ năm 2017; chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 1,08%. Tỷ giá thương mại hàng hóa 6 tháng năm nay giảm 0,37% so với cùng kỳ năm 2017.

11. Dân số, lao động và việc làm

Dân số trung bình năm 2018 của cả nước ước tính 94,66 triệu người, bao gồm dân số thành thị 33,63 triệu người, chiếm 35,5%; dân số nông thôn 61,03 triệu người, chiếm 64,5%; dân số nam 46,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 47,91 triệu người, chiếm 50,6%.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước đến thời điểm 1/7/2018 ước tính là 55,1 triệu người, tăng 594 nghìn người so với cùng thời điểm năm 2017. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động tại thời điểm 1/7/2018 ước tính là 48,4 triệu người, tăng 539,8 nghìn người so với cùng thời điểm năm trước.

Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý II/2018 ước tính tương đương quý I/2018 là 2,2%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018 ước tính là 2,2%, trong đó khu vực thành thị là 3,12%; khu vực nông thôn là 1,74%.

Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2018 là 1,52%; quý II ước tính là 1,50%. Tính chung 6 tháng đầu năm nay ước tính là 1,51%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,64%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,95%.

12. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội

Đời sống dân cư 6 tháng đầu năm 2018 được cải thiện, thiếu đói trong nông dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, cả nước có 94 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 39,6% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 373,9 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 41,5%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 6,9 nghìn tấn lương thực.

Công tác an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng các suất quà trao tặng cho các đối tượng chính sách, người có công, các đối tượng bảo trợ xã hội trong 6 tháng đầu năm là 3,6 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó có 21,7 triệu thẻ bảo hiểm y tế, sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

13. Giáo dục, đào tạo

Năm học 2017-2018, cả nước có 15.241 trường mầm non, tăng 378 trường so với năm học trước; 28.710 trường phổ thông, giảm 81 trường, bao gồm: 14.937 trường tiểu học, giảm 115 trường; 10.091 trường trung học cơ sở, giảm 64 trường; 2.398 trường trung học phổ thông, tăng 7 trường; 848 trường phổ thông cơ sở, tăng 75 trường và 436 trường trung học, tăng 16 trường. Số giáo viên mẫu giáo là 266,3 nghìn người, tăng 6,2% so với năm học trước; số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 853 nghìn người, giảm 0,7%, bao gồm: 396,6 nghìn giáo viên tiểu học, giảm 0,1%; 306,1 nghìn giáo viên trung học cơ sở, giảm 1,6% và 150,3 nghìn giáo viên trung học phổ thông, giảm 0,3%. Cả nước có 4,6 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, tăng 4,3% so với năm học trước; 15,9 triệu học sinh phổ thông, tăng 2,6%, bao gồm: 8 triệu học sinh tiểu học, tăng 3,1%; 5,4 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 2,6% và 2,5 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 1,3%.

Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018 có 925,8 nghìn thí sinh đăng ký dự thi, trong đó 688,5 nghìn thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng, chiếm 74,4% tổng số thí sinh đăng ký dự thi.

Năm học 2017-2018, cả nước có 235 trường đại học, bao gồm 170 trường công lập và 65 trường ngoài công lập; số giáo viên đại học là 75 nghìn người, tăng 3% so với năm học trước; số sinh viên đại học là 1,7 triệu người, giảm 4,1%.

Giáo dục nghề nghiệp hiện có hơn 3.000 cơ sở, trong đó có 388 trường cao đẳng; 513 trường trung cấp và 939 trung tâm giáo dục nghề nghiệp. Trong 6 tháng đầu năm, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh gần 1,1 triệu người, đạt 48% so với kế hoạch năm.

14. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong 6 tháng đầu năm nay, cả nước có gần 16,8 nghìn trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 22,8 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (5 trường hợp tử vong); 291 trường hợp mắc bệnh thương hàn; 333 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (5 trường hợp tử vong); 18 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 230 trường hợp mắc bệnh ho gà; 53 trường hợp mắc bệnh do liên cầu lợn (5 trường hợp tử vong) và 35 trường hợp tử vong do bệnh dại.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/6/2018 là 208,8 nghìn người và số trường hợp đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 91,6 nghìn người; số người tử vong do HIV/AIDS tính đến thời điểm trên là 97,5 nghìn người.

Tính chung 6 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 44 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 1.207 người bị ngộ độc, trong đó 7 trường hợp tử vong.

15. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa, nghệ thuật 6 tháng đầu năm tập trung vào chào mừng các ngày Lễ lớn, các sự kiện trọng đại của đất nước. Nhiều sự kiện được tổ chức với quy mô lớn và nhận được sự hưởng ứng của đông đảo nhân dân, góp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của đất nước, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần của người dân. Phong trào thể thao quần chúng diễn ra sôi nổi khắp các địa phương với nhiều hoạt động phong phú như tổ chức các trò chơi dân gian, các môn thể thao truyền thống, tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2018, triển khai Chương trình bơi an toàn, phòng chống đuối nước trẻ em năm 2018. Thể thao thành tích cao những tháng đầu năm đạt được một số kết quả ấn tượng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, đoàn thể thao Việt Nam giành 172 huy chương vàng, 114 huy chương bạc và 88 huy chương đồng trên các đấu trường quốc tế, trong đó cấp thế giới có 16 huy chương vàng, 21 huy chương bạc và 21 huy chương đồng.

16. Tai nạn giao thông

Tính chung 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8.999 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.644 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4.355 vụ va chạm giao thông, làm 4.103 người chết, 2.465 người bị thương và 4.562 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 6,2% (Số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 3,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 9,2%); số người chết giảm 0,7%; số người bị thương tăng 3,3% và số người bị thương nhẹ giảm 17,8%. Bình quân 1 ngày trong 6 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, gồm 25 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 24 vụ va chạm giao thông, làm 23 người chết, 14 người bị thương và 25 người bị thương nhẹ.

17. Thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ

Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, thiên tai trong 6 tháng đầu năm đã làm 33 người chết và mất tích, 47 người bị thương; 15 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; gần 11 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại ước tính hơn 808 tỷ đồng. Đáng chú ý là đợt mưa lớn, lũ quét và sạt lở đất xảy ra tại miền núi phía Bắc ngày 22-26/6 đã làm 15 người chết, 11 người mất tích, 7 người bị thương; hơn 1,5 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, hư hỏng, cuốn trôi và ngập nước; 1,2 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng; 5,5 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; nhiều tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ bị sạt lở gây ách tắc giao thông, thiệt hại ước tính hơn 140 tỷ đồng.

Trong 6 tháng đầu năm, cơ quan chức năng đã phát hiện 7.691 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 7.178 vụ với tổng số tiền phạt 98 tỷ đồng. Trong 6 tháng, cả nước xảy ra 2.091 vụ cháy, nổ, làm 67 người chết và 169 người bị thương, thiệt hại ước tính hơn 1.200 tỷ đồng./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/