TIN HOẠT ĐỘNG NGÀNH
Tổng quan thị trường và giá cả tháng 4 năm 2018

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 năm 2018 tăng 0,08 so với tháng trước, tăng 2,75% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,05% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân bốn tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,8%...

I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ THÁNG 4 NĂM 2018

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 năm 2018 tăng 0,08 so với tháng trước, tăng 2,75% so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,05% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân bốn tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,8%.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 6 nhóm hàng tăng giá: nhóm Giao thông có mức tăng cao nhất, tăng 1,18%; Nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,18%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; Giáo dục tăng 0,06%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Có 3 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Bưu chính viễn thông giảm 0,08%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%; May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,01%. Nhóm Đồ uống và thuốc lá không đổi.

1. Các nguyên nhân làm tăng CPI tháng 4 năm 2018

 (1). Giá các mặt hàng lương thực tăng 0,12% chủ yếu do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu. Giá gạo xuất khẩu tăng do nhu cầu gạo tăng từ thị trường Trung Quốc và thị trường các nước Đông Nam Á. Bên cạnh đó, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang thu hoạch vụ Đông Xuân đây là vụ mùa lớn nhất, chất lượng tốt nhất nên các doanh nghiệp đều tập trung mua vào.

 (2). Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 07/4/2018 và ngày 23/4/2018, tổng cộng giá xăng A95 tăng 520 đồng/lít, giá xăng E5 tăng 590 đồng/lít, giá dầu diezen tăng 1020 đồng/lít nên bình quân tháng 4/2018 giá xăng dầu tăng 2,72% so với tháng trước đóng góp làm tăng CPI chung 0,11%.

(3). Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,5% do nhu cầu xây dựng bắt đầu tăng cùng với việc Trung Quốc tiến hành cắt giảm sản lượng thép nên giá phôi thép và thép thành phẩm đều tăng.

(4). Thời tiết các tỉnh miền Bắc chuyển sang mùa hè, các tỉnh miền Nam đang vào thời điểm nắng nóng nên nhu cầu tiêu dùng điện và nước tăng làm cho giá điện sinh hoạt tăng 0,14% và giá nước sinh hoạt tăng 0,42%.

 (5). Giá các tua du lịch trọn gói trong nước và ngoài nước đều tăng do các Công ty du lịch tăng giá nhân dịp nghỉ lễ ngày 30/4 và 1/5.

2. Các nguyên nhân làm giảm CPI tháng 4 năm 2018

Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, còn có một số nguyên nhân kiềm chế CPI tháng 4/2018 như sau:

(1). Giá một số mặt hàng thực phẩm tươi sống giảm như giá thịt bò giảm 0,36%; giá thịt gà giảm 0,19%; giá thủy sản tươi sống giảm 0,85%; giá rau tươi giảm 3,4% do nguồn cung dồi dào.

(2). Giá đường giảm 0,47% do giá đường thế giới giảm và nhu cầu tiêu thụ chậm trong khi nguồn cung dồi dào.

 

II. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 4 NĂM 2018 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,18%)

1.1 Lương thực (+0,12%)

Chỉ số giá lương thực tháng 4/2018 tăng 0,12% so với tháng 3/2018 do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu gạo từ Trung Quốc và các nước Đông Nam Á tăng. Giá gạo xuất khẩu tăng do cơ cấu gạo xuất khẩu thay đổi, khối lượng xuất khẩu gạo chất lượng cao tăng lên, trước đây Việt Nam chủ yếu xuất khẩu gạo thường IR 50404, hiện nay xuất khẩu gạo tẻ ngon chiếm tỷ trọng lớn và giá xuất khẩu gạo ngon 5% tấm cao hơn giá gạo của Thái Lan từ 15 - 20USD/tấn. Trong nước, Vụ lúa Đông Xuân ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long thuận lợi, được mùa, giá bán cao hơn các năm trước.

Tại miền Bắc giá gạo tẻ thường ở mức 12.500đ/kg - 14.000đ/kg, tại miền Nam gạo tẻ thường IR50404 giá phổ biến ở mức 11.500đ/kg  - 11.900đ/kg; gạo tẻ thường IR64 giá 12.000đ/kg - 13.000đ/kg, gạo tẻ ngon Nàng thơm chợ Đào giá 17.000đ/kg - 19.000đ/kg, giá gạo nếp dao động từ 25.000đ/kg - 30.000đ/kg.

1.2 Thực phẩm (-0,33%)

Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm ở hầu hết các mặt hàng trong nhóm do nguồn cung dồi dào, cụ thể: 

-  Trong những tháng đầu năm, dịch bệnh gia cầm được kiểm soát tốt, giá thịt gia cầm ổn định, giá thịt gà giảm 0,19% trong đó: giá gà ta từ 80.000đ/kg - 115.000 đ/kg; giá gà công nghiệp làm sẵn từ 40.000đ/kg - 60.000đ/kg;

- Thời tiết biển thuận lợi nên sản lượng thủy sản dồi dào, giá thủy sản tươi sống giảm 0,85%, trong đó: cá tươi giảm 0,75%, tôm tươi giảm 1,08%; thủy hải sản chế biến giảm 0,3%;

- Trứng gia cầm các loại giảm 0,76%;

- Giá bánh kẹo, bơ, cà phê, chè búp khô, mứt tết có mức giảm từ 0,06% đến 0,78%;

- Giá rau tươi giảm 3,4% so với tháng trước do thời tiết thuận lợi nên rau phát triển tốt, lượng rau cung cấp ra thị trường dồi dào, nhiều loại rau giảm giá mạnh như: bắp cải, xu hào, cà chua, khoai tây, củ cải giảm từ 5% - 20%.

Riêng giá thịt lợn tăng 1,25% so với tháng trước do giá thịt lợn hơi tại các tỉnh phía Nam tăng khá cao vì sau một thời gian dài thua lỗ, nhiều hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, trang trại phải bỏ chuồng, hiện nay nguồn cung thịt lợn ra thị trường chủ yếu từ các công ty chăn nuôi có quy mô lớn. Bên cạnh đó, việc Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu thịt lợn từ Mỹ lên 25% khiến thị trường trong nước xảy ra tình trạng giữ hàng, chờ Trung Quốc nhập thịt lợn từ Việt Nam.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,04%)

Thời tiết đang chuyển sang mùa nắng nóng nên nhu cầu tiêu dùng một số mặt hàng đồ uống ngoài gia đình tăng, dẫn đến giá tăng như: giá nước cam tươi tăng từ 0,05% - 2,76%, giá sinh tố trái cây tăng từ 0,02% - 1,37%, giá chè Lipton tăng 0,03% và nước mía ép tăng từ 0,07% - 1,4%, giá suất ăn cơm bình dân ổn định so với tháng trước.

2. Nhóm đồ uống, thuốc lá (0%)

Chỉ số giá nhóm hàng này khá ổn định, trong nhóm có một số mặt hàng tăng giá như: các loại nước khoáng và nước có gas tăng 0,21%, bia hơi tăng 0,38% do nhu cầu tăng; ở chiều ngược lại, mặt hàng rượu các loại giảm 0,02%, các loại bia lon và bia chai giảm từ 0,1% - 0,21%.

3. May mặc, mũ nón và giầy dép (-0,01%)

Tháng 4 là tháng chuyển mùa của các tỉnh miền Bắc nên nhu cầu mua sắm quần áo không cao, giá một số mặt hàng quần áo mùa đông giảm nên chỉ số giá nhóm quần áo may sẵn giảm 0,02%; giá găng tay, bít tất có mức giảm từ 0,02% - 0,38%; giá giầy dép giảm từ 0,01% - 0,28%.

4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+0,18%)

Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở các mặt hàng như sau:

- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,5% do nhu cầu xây dựng bắt đầu tăng cùng với việc Trung Quốc tiến hành cắt giảm sản lượng thép nên giá phôi thép và thép thành phẩm đều tăng; cùng với đó công dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,92%.

- Giá điện sinh hoạt tăng 0,14%, giá nước sinh hoạt tăng 0,42% do nhu cầu sử dụng điện, nước tăng.

- Giá dầu hỏa tăng 3,61% do Tổng công ty xăng dầu Việt Nam điều chỉnh tăng giá 500đồng/1 lít vào ngày 7/4/2018.

Giá gas tháng 4/2018 ổn định so với tháng trước.

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,09%)

Chỉ số giá nhóm hàng này tăng chủ yếu ở các mặt hàng thiết bị gia đình do nhu cầu tiêu dùng tăng vào hè: giá tủ lạnh tăng 0,02%, giá máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,26%, đồ điện tăng 0,09%.

6. Thuốc và dịch vụ y tế (+0,02%)

Chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% do giá một số loại thuốc tăng như: Nhóm thuốc giảm đau, thuốc hạ sốt, chống viêm không steroid và thuốc điều trị gút và các bệnh xương tăng 0,24%; vitamin và khoáng chất tăng 0,2%; thuốc tác dụng vào hệ nội tiết tăng 0,17%; thuốc tác dụng trên dường hô hấp tăng 0,08%.

7. Giao thông (+1,18%)

Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,18% so với tháng trước, chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở những mặt hàng sau:

- Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 07/4/2018 và ngày 23/4/2018, tổng cộng giá xăng A95 tăng 520 đồng/lít, giá xăng E5 tăng 590 đồng/lít, giá dầu diezen tăng 1020 đồng/lít nên bình quân tháng 4/2018 giá xăng dầu tăng 2,72% so với tháng trước đóng góp làm tăng CPI chung 0,11%;

- Giá vé máy bay tăng 0,76% chủ yếu ở phí và giá dịch vụ trong đó có giá dịch vụ phục vụ hành khách, giá dịch vụ an ninh, giá suất ăn hàng không;

- Giá vé tàu hỏa tăng 2,55% do Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá khi nhu cầu tăng cao chuẩn bị dịp nghỉ lễ Giỗ tổ Hùng Vương và 30/4 - 1/5.    

8. Văn hóa, giải trí và du lịch (+0,08%)

Chỉ số giá nhóm này tăng 0,08% chủ yếu mặt hàng thuê khách sạn, nhà khách tăng 0,08%; du lịch trọn gói tăng 0,48%, thiết bị và dụng cụ thể thao tăng 0,16%.

9. Hàng hóa và dịch vụ khác (-0,02% )

Chỉ số nhóm hàng này giảm chủ yếu ở nhóm hàng các vật dụng về hiếu giảm 0,23%, các vận dụng về hỉ giảm 0,07% do nhu cầu giảm.

10. Chỉ số giá vàng (+0,47%)

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới, mâu thuẫn thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, căng thẳng địa chính trị xung quanh vấn đề Syria là những nguyên nhân dẫn đến giá vàng thế giới tăng. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 23/4/2018 tăng 0,1% so với tháng 3/2018; bình quân tháng 4/2018 giá vàng trong nước tăng 0,47% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 3,67 triệu đồng/chỉ vàng SJC.

11. Chỉ số giá đô la Mỹ (+0,1%)

Trước những tín hiệu lạc quan về tăng trưởng của kinh tế Mỹ, giới đầu tư kỳ vọng Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) sẽ sớm tăng lãi suất và sẽ nâng lãi suất thêm ít nhất 3 lần nữa trong năm nay, sau khi đã tăng 1 lần hồi tháng 3. Lãi suất trái phiếu 10 năm của Mỹ tăng lên 3%, mức cao nhất trong 4 năm gần đây, đây cũng là yếu tố làm cho đồng USD mạnh lên. Trong nước, với lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào cùng với cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên giá Đô la Mỹ trong nước khá ổn định, giá bình quân ở thị trường tự do tháng này quanh mức 22.790 VND/USD.

 II. LẠM PHÁT CƠ BẢN

 Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 4 năm 2018 tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 1,33% so với cùng kỳ; bốn tháng đầu năm 2018 so cùng kỳ tăng 1,34%.

 

Tháng 4 năm 2018, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản. Điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lương thực, giá xăng dầu. Lạm phát cơ bản bốn tháng đầu năm 2018 so cùng kỳ ở mức 1,34% phản ánh chính sách tiền tệ vẫn đang điều hành ổn định./.

CTK Bình Thuận

 

 




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/