TIN HOẠT ĐỘNG NGÀNH
Tổng quan thị trường và giá cả tháng 3 và Quý I năm 2018

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm nay giảm so với tháng trước, đúng theo quy luật tiêu dùng sau Tết của những năm trước đây. CPI tháng 3/2018 giảm 0,27% so tháng 2/2018; tăng 2,66% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,97% so với tháng 12 năm trước...

I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ THÁNG 3 NĂM 2018

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3 năm nay giảm so với tháng trước, đúng theo quy luật tiêu dùng sau Tết của những năm trước đây. CPI tháng 3/2018 giảm 0,27% so tháng 2/2018; tăng 2,66% so cùng kỳ năm trước; tăng 0,97% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân ba tháng đầu năm 2018 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,82%.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm hàng giảm: Giao thông giảm 0,77 %; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,62%; Đồ uống và thuốc lá giảm 0,28%; Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,28%; May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,17%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,09%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,1%; Bưu chính viễn thông giảm 0,04%. Có 3 nhóm tăng: Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,98%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,02%; Giáo dục tăng 0,01%.

1. Các nguyên nhân làm giảm CPI tháng 3 năm 2018

(1). Do nhu cầu tiêu dùng sau Tết giảm nên giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống giảm từ 0,08% đến 1,63% so với tháng trước và giảm ở các mặt hàng thịt lợn, thịt bò, hải sản tươi sống, rau tươi. Theo đó, chỉ số giá nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,62% góp phần giảm CPI chung 0,23%.

(2). Giá vé tàu hỏa giảm 16,06% do Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam giảm giá vé sau dịp Tết Nguyên đán. Giá dịch vụ giao thông công cộng giảm 1,99% do một số đơn vị kê khai tăng giá trước Tết giảm giá trở về giá cũ.

(3). Giá gas giảm 3,7% do các doanh nghiệp trong nước điều chỉnh giảm giá từ ngày 01/3/2018 với mức giảm 13.000đ/bình 12 kg do giá gas thế giới giảm.

(4). Giá rau tươi giảm 4,1% do thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào và nhiều chủng loại.

(5). Nhu cầu tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ của người dân sau Tết Nguyên đán giảm nên giá các mặt hàng may mặc, mũ nón, giầy dép, đồ uống, thuốc lá trở về mặt bằng giá trước Tết Nguyên đán.

2. Các nguyên nhân làm tăng CPI tháng 3 năm 2018

(1). Giá dịch vụ y tế tăng cho đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế theo các quyết định của Ủy ban nhân dân 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định trong Thông tư số 02/2018/TT-BYT ngày 15/3/2018 của Bộ Y tế làm cho giá dịch vụ y tế tăng 2,54% so với tháng trước đóng góp làm tăng CPI chung 0,1% (Danh sách 9 tỉnh tăng giá dịch vụ y tế trong bảng Phụ lục).

(2). Giá lương thực tăng 0,35% do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng và nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước như Bangladesh, Indonesia và Philippines tăng.

(3). Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,75% do nhu cầu xây dựng bắt đầu tăng cùng với việc Trung Quốc tiến hành cắt giảm sản lượng thép nên giá phôi thép và thép thành phẩm đều tăng.

 

II. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 3 NĂM 2018 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH

1. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,62%)

1.1 Lương thực (+0,35%)

Chỉ số giá lương thực tháng 3/2018 tăng 0,35% so với tháng 2/2018 do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng mạnh trong bối cảnh nhu cầu nhập khẩu gạo từ các nước như Bangladesh, Indonesia và Philippines tăng. Hiện tại, giá gạo trắng 5% tấm của Việt Nam đang được chào bán với mức 425 - 430 USD/tấn, cao hơn so với gạo cùng loại của Thái Lan khoảng 20 USD/tấn, giá gạo thơm xoay quanh 600 USD/tấn, gạo nếp 525 USD/tấn. Trong nước, giá lúa gạo cũng đang ở mức cao mặc dù vụ Đông Xuân ở Đồng bằng sông Cửu Long đã bước vào thời điểm thu hoạch rộ.

Tại miền Bắc giá gạo tẻ thường ở mức 12.500đ/kg - 14.000đ/kg, tại miền Nam gạo tẻ thường IR50404 giá phổ biến ở mức 11.500đ/kg  - 11.900đ/kg; gạo tẻ thường IR74 giá 10.000đ/kg - 10.500đ/kg, gạo tẻ ngon Nàng thơm chợ Đào giá 17.000đ/kg - 19.000đ/kg, giá gạo nếp dao động từ 25.000đ/kg - 30.000đ/kg.

1.2 Thực phẩm (-1,05%)

Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm ở hầu hết các mặt hàng trong nhóm do nhu cầu tiêu dùng sau Tết của người dân giảm, giá các mặt hàng này đã trở lại bình thường, có một số nhóm hàng do lượng cung dồi dào, cụ thể: 

- Giá thịt lợn giảm 1,63%, giá thịt bò giảm 1,15%;

- Giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,57% so tháng trước. Giá gà ta hiện chỉ còn từ 80.000đ/kg - 105.000 đ/kg; gà công nghiệp làm sẵn giá từ 40.000đ/kg - 52.000đ/kg;

- Giá thủy sản tươi sống giảm 0,81% trong đó: cá tươi giảm 0,78%, tôm tươi giảm 1,04%; thủy hải sản chế biến giảm 0,25%;

- Trứng gia cầm các loại giảm 1,58%;

- Giá bánh kẹo, bơ, cà phê, chè búp khô, mứt tết có mức giảm từ 0,13% đến 0,72%;

- Giá rau tươi giảm 4,1% so với tháng trước do thời tiết thuận lợi nên rau phát triển tốt, lượng rau cung cấp ra thị trường dồi dào, nhiều loại rau giảm giá mạnh như: bắp cải, xu hào, cà chua, khoai tây, củ cải giảm từ 10% - 20%.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (-0,02%)

Thực phẩm giảm làm cho nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,02%, trong đó giá suất ăn ở quán bình dân giảm 0,1%.

2. Nhóm đồ uống, thuốc lá (-0,28%)

Nhu cầu tiêu dùng giảm nên giá các mặt hàng: đồ uống không cồn giảm 0,27%; rượu bia giảm 0,4%; thuốc hút giảm 0,17%.

3. May mặc, mũ nón và giầy dép (-0,17%)

Nhu cầu mua sắm quần áo sau Tết giảm và thời tiết đang chuyển mùa nên nhu cầu tiêu dùng của người dân về một số mặt hàng quần áo mùa đông giảm như: giá áo khoác người lớn giảm 0,91%; giá găng tay, bít tất có mức giảm từ 1% - 4%; giá giầy dép giảm từ 0,08% - 0,11%.

4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (-0,28%)

Chỉ số giá nhóm hàng này giảm chủ yếu ở mặt hàng gas. Giá gas giảm 3,7% do các doanh nghiệp trong nước điều chỉnh giảm giá từ ngày 01/3/2018 với mức giảm 13.000đ/bình 12 kg do giá gas nhập khẩu trong tháng 3/2018 giảm 42,5USD/tấn chốt giá ở mức 472,5 USD/tấn.

   Bên cạnh đó, một số mặt hàng tăng giá như sau:

- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,75% do nhu cầu xây dựng bắt đầu tăng cùng với việc Trung Quốc tiến hành cắt giảm sản lượng thép nên giá phôi thép và thép thành phẩm đều tăng;

- Giá điện sinh hoạt tăng 0,29% do nhu cầu sử dụng điện tăng.

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,02%)

Chỉ số giá nhóm hàng này tăng chủ yếu ở dịch vụ thuê người giúp việc do sau thời gian nghỉ Tết thường thiếu lao động nhất là dịch vụ thuê người giúp việc theo giờ, do đó chỉ số giá nhóm dịch vụ trong gia đình tăng 0,36%.

6. Thuốc và dịch vụ y tế (+1,98%)

Giá dịch vụ y tế tăng 2,54% so với tháng trước do tăng theo quyết định của Ủy ban nhân dân 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được quy định trong Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế đối với đối tượng không có thẻ bảo hiểm y tế, góp phần làm cho CPI chung tăng 0,1%.       

7. Giao thông (-0,77%)

Nhóm giao thông giảm 0,77% so với tháng trước, chỉ số giá nhóm này giảm chủ yếu ở những mặt hàng sau:

- Thuế nhập khẩu ô tô nguyên chiếc từ khu vực ASEAN giảm xuống 0% nên giá bán ô tô trong nước giảm, theo đó chỉ số giá phương tiện đi lại giảm 0,19%;

- Do ảnh hưởng của đợt giảm giá xăng dầu vào ngày 21/2/2018 nên bình quân tháng 3/2018 giá xăng dầu giảm 1,3% so với tháng trước làm giảm CPI chung 0,06%;

- Giá vé ô tô khách giảm 2,8% do các doanh nghiệp giảm giá vé sau Tết;

- Giá vé tàu hỏa giảm 16,06% do Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam giảm giá vé sau dịp Tết Nguyên đán 2018;     

- Dịch vụ trông giữ xe máy, ô tô giảm 1,6% do giá tăng cao trong thời điểm tháng Tết nay trở về mức giá trước Tết.

8. Văn hóa, giải trí và du lịch (-0,09%)

Chỉ số giá nhóm này giảm 0,09% chủ yếu mặt hàng thuê khách sạn, nhà khách giảm 0,18%; giá hoa tươi giảm mạnh giảm 6,45% do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu giảm.

9. Hàng hóa và dịch vụ khác (-0,1% )

Chỉ số nhóm hàng này tăng chủ yếu ở nhóm hàng dịch vụ phục vụ cá nhân như: cắt tóc gội đầu giảm 0,72%; vật dụng về hiếu, hỉ giảm 0,1% do nhu cầu giảm; đồ trang sức giảm 0,4% do giá vàng giảm.

10. Chỉ số giá vàng (-0,35%)

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới, trong những ngày đầu tháng giá vàng giảm do áp lực từ đồng Đô la Mỹ mạnh lên và Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25% vào ngày 21/3/2018. Tuy nhiên những ngày gần đây với những quyết sách kinh tế của Tổng thống Mỹ Donal Trump làm giới đầu tư lo ngại chiến tranh thương mại có thể xảy ra, tuy vậy bình quân giá vàng thế giới đến ngày 25/3/2018 giảm 0,9% so với tháng 2/2018; bình quân tháng 3/2018 giá vàng trong nước giảm 0,35% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 3,68 triệu đồng/chỉ vàng SJC.

11. Chỉ số giá đô la Mỹ (+0,27%)

Ngày 21/3/2018 FED đã tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25%, đây là lần đầu tiên FED tăng lãi suất trong năm 2018 và dự báo FED sẽ 3 lần tăng lãi suất trong năm 2018. Tính đến ngày 23/3/2018 chỉ số USD đạt mức bình quân 89,83% cao hơn mức 89,59 bình quân tháng 2/2018. Trong nước, ngay sau khi FED tăng lãi suất, tỷ giá USD của các Ngân hàng thương mại đã tăng xoay quanh mức 22.820VND/USD, tuy nhiên với lượng dự trữ ngoại tệ dồi dào cùng với cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, nên giá Đô la Mỹ trong nước khá ổn định, giá bình quân ở thị trường tự do tháng này quanh mức 22.780 VND/USD.

II. LẠM PHÁT CƠ BẢN

Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) tháng 3 năm 2018 giảm 0,09% so với tháng trước, tăng 1,38% so với cùng kỳ; 3 tháng đầu năm 2018 so cùng kỳ tăng 1,34%.

 

Trong Quý I năm 2018, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản. Điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lương thực, thực phẩm tươi sống, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế. Lạm phát cơ bản Quý I năm 2018 so cùng kỳ ở mức 1,34% phản ánh chính sách tiền tệ vẫn đang điều hành ổn định.

III. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ QUÝ I NĂM 2018

          Chỉ số giá tiêu dùng Quý I/2018 tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước và tăng 0,97% so với tháng 12 năm trước.

 

1. Một số nguyên nhân gây tăng CPI trong 3 tháng đầu năm 2018

a) Điều hành của Chính phủ

Giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 02/2017/TT-BYT ngày 15/3/2017 của Bộ Y tế quy định mức khung tối đa giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người không có thẻ bảo hiểm y tế tại 18 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế ba tháng đầu năm 2018 tăng 35,32% so với cùng kỳ năm trước góp phần làm cho CPI tăng 1,37%.

Thực hiện lộ trình tăng học phí theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, một số tỉnh đã tăng học phí các cấp làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục ba tháng đầu năm 2018 tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước góp phần làm cho CPI tăng 0,34%.

Mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho người lao động ở các doanh nghiệp tăng từ ngày 01/01/2018 (tính trung bình, mức lương tối thiểu vùng năm 2018 cao hơn mức lương tối thiểu vùng năm 2017 khoảng 180.000 - 230.000 đồng/tháng, tăng khoảng 6,5%) nên giá một số loại dịch vụ như: dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình, dịch vụ bảo dưỡng nhà ở, dịch vụ sửa chữa, lắp đặt điện, nước; dịch vụ thuê người giúp việc gia đình có mức tăng giá từ 2% - 8% so với cùng kỳ năm trước.

b) Yếu tố thị trường

Tháng 1, tháng 2 là tháng Tết nên nhu cầu mua sắm tăng cao, giá các mặt hàng lương thực tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước góp phần làm cho CPI tăng 0,18% do các thương lái thu gom lúa gạo cho hợp đồng xuất khẩu sang Indonexia và Philippine.

Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loại quần áo may sẵn tăng cao trong dịp Tết do nhu cầu tăng, bình quân ba tháng đầu năm 2018 chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 1,36% và 1,39% so với cùng kỳ năm 2017.

Giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 1,87% so với quý trước do một số đơn vị vận tải hành khách kê khai tăng giá chiều đông khách, cùng với Tổng công ty Đường sắt Việt Nam tăng giá vé tàu hỏa vào dịp Tết Nguyên đán.

Giá gas sinh hoạt được điều chỉnh theo giá gas thế giới, ba tháng đầu năm 2018 giá gas tăng 2,83% so với cùng kỳ năm trước.

Giá nhiên liệu trên thị trường thế giới trong ba tháng đầu năm 2018 tăng khá mạnh, bình quân từ thời điểm 01/1/2018 đến thời điểm 23/3/2018 ở mức 66,88USD/thùng, cao hơn nhiều so với mức 54,65USD/thùng của bình quân Quý I năm 2017. Trong nước giá xăng dầu tính đến ngày 25/3/2018 được điều chỉnh tăng 2 lần, giảm 1 lần, tổng cộng tăng 700đ/lít, dầu diezel tăng 550đ/lít, dầu hỏa tăng 950đ/lít, riêng xăng E5 được điều chỉnh tăng 1 lần và giảm 1 lần, tổng cộng tăng 100đ/lít, làm cho giá xăng dầu bình quân ba tháng đầu năm 2018 tăng 9,18% so với cùng kỳ góp phần tăng CPI chung 0,38%.

Nhu cầu du lịch tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán, nên chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước.

Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới có xu hướng tăng trở lại như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép,… nên chỉ số giá nhập khẩu ba tháng đầu năm so cùng kỳ đã tăng 0,76%, chỉ số giá sản xuất công nghiệp (PPI) cũng tăng 2,64%.

2. Các yếu tố kiềm chế CPI

Bên cạnh những yếu tố gây tăng giá đề cập ở trên, trong ba tháng đầu năm 2018 cũng có những yếu tố góp phần kiềm chế chỉ số CPI, đó là:

a) Mặc dù trong ba tháng đầu năm 2018 có Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng của các mặt hàng thực phẩm tăng làm cho giá thực phẩm tăng so với tháng 12/2017 nhưng so với cùng kỳ năm 2017 giá thực phẩm giảm 1,47% do giá thịt lợn giảm khá mạnh từ tháng 01/2017 đến tháng 6/2017, từ giữa tháng 7 đến tháng 10/2017 giá tăng sau đó lại tiếp tục giảm đến tháng 12/2017, bình quân quý I/2018 giá thịt lợn giảm 12,31% so cùng kỳ năm trước. Theo đó, chỉ số giá nhóm thực phẩm ba tháng đầu năm 2018 giảm 1,47% góp phần làm cho CPI chung giảm 0,33% so với cùng kỳ năm trước.

b) Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018, trong đó, tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân năm 2018 đặt ra dưới 4%. Theo đó, các ngành, các cấp đã và đang tích cực triển khai thực hiện:

- Ngành Công Thương phối hợp với các ngành liên quan chỉ đạo các doanh nghiệp thương mại dự trữ hàng hóa, tham gia bình ổn thị trường phục vụ Tết Nguyên đán nên không xảy ra hiện tượng tăng giá đột biến vào dịp Tết.

- Bộ Tài chính tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liên ngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địa phương. Về quản lý giá xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ Công Thương điều hành kinh doanh xăng dầu phù hợp tình hình thị trường thế giới và trong nước góp phần thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chính sách tiền tệ kiên định mục tiêu giữ ổn định vĩ mô. Trong hai tháng đầu năm đồng Đô la Mỹ suy yếu do chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump muốn duy trì đồng Đô la Mỹ yếu để hỗ trợ xuất khẩu và đẩy lạm phát trong nước đạt mục tiêu 2%. Đến tháng ba, giá Đô la Mỹ tăng nhẹ do FED tăng lãi suất cơ bản thêm 0,25% vào ngày 21/3/2018. Trong nước, với cách điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tám đồng tiền chủ chốt, nên giá đồng USD trong nước khá ổn định. Giá vàng trong nước biến động cùng xu hướng với giá vàng thế giới, đồng Đô la Mỹ yếu hơn so với “rổ” sáu đồng tiền tạo đà tăng cho giá vàng; nhu cầu vàng trong nước tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán. Đáng chú ý, năm nay ngày Thần Tài không có tình trạng “sốt vàng” gây bất ổn kinh tế - xã hội./.

CTK Bình Thuận

 

 




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/