TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
Tình hình kinh tế xã hội tháng 10 năm tỉnh Bình Thuận

Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi; nông dân tập trung vào chăm sóc các loại cây trồng vụ mùa. Cây lâu năm phát triển ổn định. Ngành chăn nuôi của tỉnh đang gặp khó khăn do giá thức ăn chăn nuôi tăng, trong khi đó giá thịt lợn hơi giảm; tình hình dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được kiểm soát tốt. Thời tiết thuận lợi cho trồng rừng tập trung. Sản lượng khai thác thuỷ sản trong tháng giảm hơn so với tháng trước do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 làm hạn chế việc ra khơi đánh bắt hải sản của ngư dân ở một số nơi như cảng Phú Hài và cảng Phan Thiết.

 

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản

1. Trồng trọt

* Cây hàng năm: Sản xuất vụ mùa năm 2021 đúng khung thời vụ, thời tiết thuận lợi, nguồn nước thuỷ lợi đầy đủ phục vụ cho sản xuất. Tính đến ngày 15/10 diện tích xuống giống vụ mùa đạt 82.665,4 ha, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm 2020; diện tích tăng tập trung vào các loại cây như lúa, rau các loại và đậu các loại.

- Cây lương thực: Diện tích xuống giống đạt 47.032 ha, tăng 28,3% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó cây lúa đạt 43.046,5 ha, tăng 33%; cây bắp đạt 3.985,5 ha, giảm 7,1%.

- Cây có hạt chứa dầu: Diện tích xuống giống đạt 1.817,4 ha; diện tích chủ yếu là cây đậu phụng, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm 2020.

- Cây thực phẩm: Diện tích xuống giống đạt 6.148,3 ha, tăng 34,7% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó rau các loại đạt 2.559,1 ha, tăng 42,1%; đậu các loại đạt 3.589,2 ha, tăng 29,9%.

- Cây hàng năm khác: Diện tích xuống giống đạt 556,9 ha, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2020.

* Cây lâu năm: Tình hình thời tiết thuận lợi cho việc trồng mới và chăm sóc các loại cây lâu năm. Thị trường xuất khẩu hàng nông sản gặp nhiều khó khăn, giá đầu ra một số mặt hàng nông sản thấp làm ảnh hưởng đến việc trồng mới và phát triển diện tích cây lâu năm của các hộ dân. Tình hình sản xuất một số cây chủ lực của tỉnh:

- Thanh long: Hiện đang là thời điểm cuối vụ thu hoạch chính, người dân chuẩn bị chong đèn để cho ra hoa trái vụ. Việc vận chuyển gặp khó khăn, giá bán thanh long giảm liên tục từ đầu năm đến nay, giá phân bónthuốc trừ sâu tăng mạnh làm cho người trồng bị thua lỗ; do vậy vào thời điểm này người trồng hạn chế chong đèn ra hoa, một số nơi chuyển sang trồng các loại cây khác, cá biệt có nơi bỏ hoang diện tích. Đến thời điểm 15/10/2021 toàn tỉnh có 11.682,5 ha được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGap.

- Cao su: Hiện đang vào thời điểm thu hoạch, do ảnh hưởng dịch Covid-19 nhu cầu nhập khẩu cao su của các nước, đặc biệt là thị trường Trung Quốc giảm mạnh; sản lượng cao su trong tháng chủ yếu tiêu thụ trong nước, dự tính trong thời gian đến diện tích trồng mới trên địa bàn tỉnh không tăng.

- Cây điều: Một số địa phương như Đức Linh, Tánh Linh, Hàm Tân, đang phát triển thêm diện tích trồng điều ghép. Phần lớn diện tích điều của tỉnh chủ yếu là giống điều truyền thống, các địa phương phía bắc tỉnh như Tuy Phong, Bắc Bình cây điều phát triển chậm do phần lớn diện tích đất cát kém màu mỡ, năng suất thấp, hiệu quả chưa cao.

- Cây tiêu: Hiện đã kết thúc vụ thu hoạch; so với năm trước giá tiêu đã tăng trở lại, tuy nhiên vẫn chưa cao; dự kiến trong những tháng cuối năm diện tích tiêu trên địa bàn tỉnh sẽ tăng nhẹ.

- Các loại cây lâu năm còn lại đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích biến động không đáng kể.

* Tình hình dịch bệnh: Công tác dự báo và ngăn ngừa dịch bệnh trên cây trồng được theo dõi, triển khai thường xuyên; dịch bệnh trên cây trồng cơ bản được kiểm soát.

- Cây lúa: Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá 958 ha, giảm 313 ha so với cùng kỳ năm 2020, sâu đục thân 582 ha, tăng 221 ha so với cùng kỳ năm 2020.

- Cây thanh long: So với cùng kỳ năm 2020 diện tích nhiễm bệnh đốm nâu 4.829 ha, giảm 777 ha; ốc sên diện tích nhiễm 1.154 ha, tăng 246 ha; bệnh thán thư cành, quả diện tích nhiễm 999 ha, tăng 107 ha; bệnh nám vàng cành diện tích nhiễm 580 ha, giảm 348 ha.

- Cây khoai mì: Bệnh khảm lá virus diện tích nhiễm 3.534 ha, tăng 914 ha so với cùng kỳ năm 2020.

- Cây bắp: Bệnh sâu keo mùa thu diện tích nhiễm 196 ha.

* Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất: Tính đến ngày 05/10/2021 diện tích cấp nước sản xuất vụ mùa đạt 50.761/51.324 ha, đạt 98,9% so với kế hoạch. Tình hình nguồn nước đến ngày 07/10/2021 lượng nước hữu ích hiện tại các hồ chứa trong tỉnh được 198,9 triệu m3, đạt 54,9% thiết kế, cao hơn 28,7 triệu m3 so với cùng kỳ năm 2020; hồ thuỷ điện Đại Ninh được 214 triệu m3, đạt 85% thiết kế, cao hơn 55 triệu m3 so với cùng kỳ năm 2020; hồ thuỷ điện Hàm Thuận được 352,9 triệu m3, đạt 67,6% thiết kế, cao hơn 151 triệu m3 so với cùng kỳ năm 2020.

2. Chăn nuôi (tại thời điểm 15/10/2021)

Trong tháng do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm ảnh hưởng đến việc lưu thông vận chuyển hàng hóa, ngành chăn nuôi gặp một số khó khăn nhất định: Giá thức ăn chăn nuôi tăng; trong khi giá thịt lợn hơi, thịt gà hơi giảm; bệnh nổi cục trên đàn trâu bò cơ bản đã được khống chế. Trong tháng đàn gia súc, gia cầm vẫn đang tiếp tục duy trì; đàn trâu giảm nhẹ; đàn bò phát triển ổn định; đàn lợn phát triển khá. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia cầm cơ bản được kiểm soát tốt; số doanh nghiệp, trang trại nuôi gà công nghiệp công nghệ cao CP được thành lập mới và ngày càng có khuynh hướng tăng.

- Chăn nuôi trâu, bò: Ước đàn trâu có 8.600 con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2020 do khả năng sinh trưởng và tăng đàn chậm, thời gian đầu tư đến khi thu hồi vốn lâu hơn các loại vật nuôi khác nên người nuôi không mạnh dạn đầu tư tăng đàn; đàn bò có 173.600 con, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2020.

- Chăn nuôi lợn: Ước đàn lợn có 312.600 con, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm 2020. Chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh có khuynh hướng giảm dần ở nông hộ và tăng dần ở doanh nghiệp, trang trại chăn nuôi công nghệ cao CP. Dự kiến trong thời gian đến tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh sẽ còn tăng.

- Chăn nuôi gia cầm: Ước đàn gia cầm có 4.630 ngàn con, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó đàn gà 3.450 ngàn con, tăng 24,6%, đàn gà có khuynh hướng tăng mạnh do nhiều trang trại chăn nuôi gà công nghiệp theo mô hình CP thành lập.

* Công tác tiêm phòng, kiểm dịch động vật

Trong tháng trên địa bàn tỉnh xuất hiện ổ bệnh dịch tả lợn Châu Phi tại xã Sông Phan, huyện Hàm Tân với tổng đàn 206 con lợn đen. Tính đến ngày 21/10/2021, số lợn bị chết tăng lên 28 con, số lợn bị bệnh và chết đều có chung triệu chứng sốt, bỏ ăn, táo bón, tiêu chảy, xuất huyết,… Ngoài ra không xuất hiện các ổ dịch nguy hiểm như: Cúm gia cầm, lở mồm long móng, bệnh tai xanh trên lợn; một số bệnh truyền nhiễm khác có xảy ra trên gia súc, gia cầm nhưng ở mức độ lẻ tẻ không lây lan thành dịch; bệnh viêm da nổi cục trên đàn bò cơ bản đã được khống chế.

- Công tác tiêm phòng: Đã tổ chức tiêm phòng 2.846,2 ngàn liều vắc xin. Lũy kế 10 tháng năm 2021 đã tiêm phòng 23.434,4 ngàn liều vắc xin; trong đó đàn trâu bò 167,9 ngàn liều; đàn lợn 2.214,9 ngàn liều; đàn gia cầm 20.041 ngàn liều.

- Kiểm dịch động vật: Đã kiểm dịch 132 ngàn con lợn; 26 con trâu bò; 520,9 ngàn con gia cầm; 354,3 tấn thịt các loại; 2.160 ngàn quả trứng gia cầm, 42,6 tấn thịt sơ chế. Lũy kế 10 tháng năm 2021 đã kiểm dịch 794,3 ngàn con lợn; 20,4 ngàn con trâu bò; 3.672,2 ngàn con gia cầm; 4.159,9 tấn thịt các loại; 29.256 ngàn quả trứng gia cầm; 1.220,5 tấn thịt sơ chế.

- Kiểm soát giết mổ: Đã kiểm soát giết mổ 88 con trâu bò; 1.779 con lợn; 400 con gia cầm. Luỹ kế 10 tháng năm 2021 đã kiểm soát 2,8 ngàn con trâu bò; 27,1 ngàn con lợn; 21,3 ngàn con gia cầm; 1,5 ngàn con dê.

* Tình hình thiệt hại do thiên tai

Trong tháng do ảnh hưởng mưa lũ cục bộ, mưa lớn ngập lụt tại huyện Bắc Bình làm ngập 55 ha lúa từ 7 đến 40 ngày tuổi, 26 ha bắp, 2 ha đậu, 80 ha lúa mùa mới gieo sạ từ 5 đến 10 ngày tuổi, 160 ha lúa mùa từ 50 đến 70 ngày tuổi; giá trị thiệt hại khoảng 830 triệu đồng. Huyện Đức Linh làm ngập 255,3 ha, trong đó 83 ha lúa mùa từ 5 đến 7 ngày tuổi, 143 ha lúa hè thu đang thu hoạch; giá trị thiệt hại 1,7 tỷ đồng. Huyện Tánh Linh làm ngập 1.361 ha lúa, 3,4 ha bắp, 3 ha đậu, 5 ha điều; ước giá trị thiệt hại hơn 3 tỷ đồng.

3. Lâm nghiệp

- Công tác trồng rừng: Trong tháng đã triển khai trồng 530 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng năm 2021 trồng 1.705 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2020. Thực hiện giao khoán bảo vệ rừng chuyển tiếp đạt 133.670 ha.

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Công tác bảo vệ, phòng chữa cháy rừng tiếp tục được các địa phương trên địa bàn tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện. Từ đầu năm đến nay không xảy ra cháy rừng, tuy nhiên có 26 trường hợp cháy thực bì dưới tán rừng với diện tích 35 ha và không gây thiệt hại đến cây rừng.

- Công tác quản lý, bảo vệ rừng: Chính quyền địa phương tăng cường các hoạt động tuần tra, kiểm tra, truy quét, chú trọng theo dõi, nắm bắt diễn biến, tình hình tại vùng giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng, Ninh Thuận và các vùng trọng điểm nội tỉnh; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm luật lâm nghiệp. Trong tháng có 32 vụ vi phạm luật lâm nghiệp (trong đó phá rừng trái pháp luật 4 vụ; khai thác gỗ và lâm sản 7 vụ; mua bán, vận chuyển lâm sản trái phép 15 vụ; Vi phạm khác 6 vụ). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 10/10/2021 đã xử lý hành chính 216 vụ. Tang vật tịch thu gồm gỗ các loại 217,4 m3; 9 xe trâu bò kéo; 2 ô tô máy kéo; 19 phương tiện khác.Tổng số tiền thu nộp ngân sách 1,52 tỷ đồng.

4. Thuỷ sản

- Diện tích nuôi trồng thủy sản: Trong tháng tình hình dịch bệnh nghiêm trọng không xảy ra. Diện tích nuôi trồng trong tháng ước 274,1 ha, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm 2020 (trong đó diện tích nuôi cá đạt 81,5 ha, giảm 1,7%; diện tích nuôi tôm đạt 189,5 ha, giảm 1%). Lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 2.247,6 ha, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2020 (trong đó diện tích nuôi cá đạt 879,5 ha, tăng 1,9%; diện tích nuôi tôm đạt 1.347,2 ha, tăng 2,1%).

- Sản lượng nuôi trồng: Do tác động của dịch Covid-19 làm ảnh hưởng đến việc vận chuyển cũng như tình hình tiêu thụ. Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 1.017 tấn, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2020 (trong đó cá các loại ước đạt 455 tấn, giảm 1,1%; tôm nuôi nước lợ ước đạt 552 tấn, giảm 0,7%). Lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 9.869,6 tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2020 (trong đó cá các loại ước đạt 3.856 tấn, tăng 1,9%; tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.946,5 tấn, tăng 1,7%).

- Sản lượng khai thác: Trong tháng sản lượng khai thác giảm do thời tiết ngư trường không thuận lợi, đồng thời do tác động của việc áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ để phòng chống dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố Phan Thiết, dẫn đến một số tàu thuyền nghỉ hoạt động đánh bắt hải sản.

Sản lượng khai thác trong tháng ước đạt 19.870,2 tấn, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm 2020 (trong đó khai thác biển ước đạt 19.810 tấn, giảm 1,5%). Lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 186.745,3 tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm 2020  (trong đó khai thác biển ước đạt 186.236 tấn, tăng 0,9%).

- Sản xuất giống thuỷ sản: Sản lượng giống sản xuất chủ yếu là tôm giống, trong tháng ước 2,35 tỷ con giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 21 tỷ con, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2020; hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu tôm giống bố mẹ luôn được duy trì thường xuyên.

- Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Hoạt động tuần tra, kiểm soát quản lý tàu cá hoạt động trên biển được tăng cường, phát hiện kịp thời và ngăn chặn khai thác hải sản bất hợp pháp trên biển. Trong tháng không có tàu cá và ngư dân vi phạm vùng biển nước ngoài bị bắt giữ; xử phạt vi phạm hành chính 11 vụ. Tính từ đầu năm đến ngày 05/10/2021 đã xử phạt 245 vụ vi phạm khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản với tổng số tiền xử phạt 2,2 tỷ đồng.

 

 

II. Công nghiệp - xây dựng; đăng ký kinh doanh; đăng ký đầu tư

1. Công nghiệp

Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành tháng 10/2021 ước tăng 12,71% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 25,52%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,55%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,66%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,39%. Lũy kế 10 tháng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,41% so với cùng năm 2020; trong đó, ngành khai khoán tăng cao nhất 33,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,7% mức thấp hơn 9 tháng do trong tháng ảnh hưởng dịch Covid-19 một số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất; ngành sản xuất và phân phối điện tăng ổn định 4,18% mức tăng không cao so với cùng kỳ; ngành cung cấp nước hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,25%.

Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) tháng 10 ước đạt 3.009,78 tỷ đồng, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 9,83% so cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng ước đạt 29.789,96 tỷ đồng, tăng 6,08% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó công nghiệp khai khoáng 1.406,93 tỷ đồng, tăng 36,03%; công nghiệp chế biến chế tạo 14.259,83 tỷ đồng, tăng 5,02%; sản xuất và phân phối điện 13.905,0 tỷ đồng, tăng 4,95%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải 218,19 tỷ đồng, giảm 1,96%.

* Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu:

- Giày, dép thể thao: Dự ước tháng 10/2021 sản lượng đạt 407 ngàn đôi, giảm 2,5% so với tháng trước và tăng 41,95% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng đạt 3.468 ngàn đôi, tăng 47,40% so với cùng kỳ do doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng và do tháng cùng kỳ ảnh hưởng dịch Covid-19 sản lượng sản xuất thấp.

- Thức ăn gia súc: Dự ước tháng 10/2021 sản lượng đạt 32,23 ngàn tấn, giảm 14,12% so với tháng trước và tăng 16,38% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng  đạt 338,48 ngàn tấn, tăng 18,71% so với cùng kỳ, do nhu cầu cung cấp thức ăn đàn gia súc hiện đang phục hồi nhà máy sản xuất tăng để đáp ứng.

- Điện sản xuất: Dự ước tháng 10/2021 sản lượng đạt 2.348 triệu kwh, tăng 1,27% so với tháng trước và tăng 14,95% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng đạt 25.493 triệu kwh, tăng 4,23% so với cùng kỳ.

- Sản phẩm cao su: Dự ước tháng 10/2021 sản lượng đạt 5.261 tấn, tăng 8,33% so với tháng trước và tăng 39,12% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng đạt 29.557 tấn, tăng 51,74% so với cùng kỳ.

- Nước khoáng: Nước khoáng có gas dự ước tháng 10/2021 sản lượng đạt 1.492 ngàn lít, tăng 53,7% so với tháng trước và tăng 12,7% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng đạt 14.552 ngàn lít, giảm 19,25% so với cùng kỳ; nước khoáng không gas dự ước tháng 10/2021 sản lượng đạt 5.838 ngàn lít, tăng 27,24% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ; luỹ kế 10 tháng đạt 58.861 ngàn lít, giảm 14,61% so với cùng kỳ do ảnh hưởng dịch Covid-19 khách du lịch đến Bình Thuận giảm sâu, Tàu hỏa du lịch tuyến Tp. Hồ Chí Minh - Phan Thiết ngừng hoạt động nên sản lượng tiêu thụ giảm.

* Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN)

Trong tháng, các doanh nghiệp, chủ đầu tư hạ tầng đã nắm sát tình hình, có những giải pháp phòng chống dịch kịp thời, hiệu quả; nhiều doanh nghiệp đã chủ động sáng tạo trong thực hiện nghiêm yêu cầu 5K; sản xuất, ăn nghỉ giữa ca của công nhân, người lao động từng bước được bố trí hợp lý; test nhanh Covid-19 được thực hiện luân phiên, định kỳ để kịp thời phát hiện và chủ động phòng ngừa các trường hợp nghi nhiễm; một số doanh nghiệp đã chủ động xây dựng và thực hiện phương án sản xuất “3 tại chỗ”, “1 cung đường 2 điểm đến”,… Nhờ đó, công tác phòng chống dịch trong các KCN thời gian qua đạt kết quả; các doanh nghiệp cơ bản giữ vững sản xuất; hầu hết các doanh nghiệp đã hoàn thành và hoàn thành xấp xỉ kế hoạch đề ra, mặc dù có khó khăn hơn song vẫn có một số chỉ tiêu đã đạt và vượt so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó vẫn có một số doanh nghiệp trong KCN gặp nhiều khó khăn, phải tạm dừng hoạt động, Các khó khăn doanh nghiệp gặp phải chủ yếu về thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu đầu vào, nhất là các doanh nghiệp chế biến và sản xuất thùng carton,.. Các doanh nghiệp dừng hoạt động do thực hiện giãn cách không có doanh thu nhưng vẫn phải trả lương cho người lao động và các khoản phí cố định và những phát sinh khác.

2. Đầu tư phát triển

Tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh cơ bản được kiểm soát, một số hoạt động sản xuất kinh doanh được phép hoạt động trở lại. Ban quản lý dự án, nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình, dự án; chủ động điều chỉnh hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền điều chỉnh kế hoạch đầu tư công năm 2021 để thúc đẩy giải ngân và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.

Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước ước đạt 425 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trướctăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Luỹ kế 10 tháng đạt 3.084,9 tỷ đồng, đạt 74,1% so với kế hoạch và giảm 9,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.542,7 tỷ đồng, giảm 7,6% và đạt 73,8% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 482,5 tỷ đồng, giảm 16,5% và đạt 75,6% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 59,7 tỷ đồng, giảm 14,8% và đạt 74,6% kế hoạch năm. Trong đó vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu là 990,7 tỷ đồng; vốn nước ngoài (ODA) 50,8 tỷ đồng và vốn xổ số kiến thiết là 792,8 tỷ đồng.

3. Đăng ký kinh doanh

Trong tháng 10 (từ ngày 15/9-15/10/2021), có 56 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 16 đơn vị trực thuộc), giảm 60,84% so với cùng kỳ năm 2020; tổng vốn đăng ký mới 225 tỷ đồng, giảm 72,41%; số doanh nghiệp đã giải thể 11 doanh nghiệp (trong đó có 05 đơn vị trực thuộc), giảm 90,19%; tạm ngừng hoạt động 25 doanh nghiệp (trong đó, có 18 đơn vị trực thuộc), tăng 66,67%; đăng ký chuyển đổi loại hình 04 doanh nghiệp, giảm 33,33%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động 10 doanh nghiệp (trong đó có 2 đơn vị trực thuộc), giảm 37,50%.

Luỹ kế 10 tháng (tính đến 15/10/2021), có 782 doanh nghiệp thành lập mới (trong đó có 293 đơn vị trực thuộc), giảm 33,67% so với cùng kỳ năm 2020; vốn đăng ký 7.418,41 tỷ đồng, giảm 9,24%; có 204 doanh nghiệp hoạt động trở lại (trong đó có 36 đơn vị trực thuộc) tăng 83,78%; tạm ngừng hoạt động 259 doanh nghiệp (trong đó có 54 đơn vị trực thuộc), tăng 6,58%; số lần đăng ký thay đổi 952 doang nghiệp (trong đó có 219 đơn vị trực thuộc), giảm 3,45%; chuyển đổi loại hình 53 doanh nghiệp (không có đơn vị trực thuộc), giảm 29,33% so với cùng kỳ năm 2020. Số doanh nghiệp đã giải thể 175 doanh nghiệp (trong đó có 85 đơn vị trực thuộc), giảm 31,1%.

Về quản lý doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh: Thông báo cảnh báo 03 trường hợp doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đăng ký (theo yêu cầu của cơ quan Thi hành án). Xử lý “mở khóa” hoạt động trở lại 02 trường hợp sau khi cơ quan thuế chấp thuận cho hoạt động trở lại.

4. Đăng ký đầu tư

Trong tháng trên địa bàn tỉnh có 01 dự án được cấp Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, với tổng diện tích đất 39,15 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 48,3 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2021 (tính đến ngày 19/10/2021) trên địa bàn tỉnh có 27 dự án được cấp mới, với tổng diện tích đất 578 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 14.394 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm 2020, số dự án giảm 22 dự án, tổng diện tích đất bằng 87% so với cùng kỳ và tổng vốn đăng ký tăng 24%. Ngoài ra, cấp điều chỉnh Quyết định chủ trương đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư 35 dự án.

Trong tháng không có dự án khởi công, không có dự án đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh và dự án thu hồi. Luỹ kế 10 tháng năm 2021, có 02 dự án khởi công, có 06 dự án đi vào hoạt động và 09 có dự án thu hồi. Công tác xúc tiến đầu tư tiếp tục được thực hiện, công tác hỗ trợ doanh nghiệp được quan tâm và chú trọng.

III. Thương mại; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải

1. Thương mại, giá cả

Trong tháng tình hình thị trường diễn ra tương đối ổn định, công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng hàng hoá, an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh được các cấp chính quyền thực hiện triệt để nhằm hạn chế lây lan dịch bệnh đồng thời không để xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, ổn định giá cả, thiếu hàng, sốt giá... Hàng hoá đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng của người dân, công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường thực hiện. Tại các siêu thị, trung tâm thương mại, hệ thống chợ trong toàn tỉnh vẫn duy trì phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân; các doanh nghiệp tiếp tục thực hiện tốt các chỉ đạo của tỉnh về sản xuất kinh doanh, triển khai các chương trình bán hàng bình ổn. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân, các cơ sở bán hàng vẫn duy trì các hình thức bán hàng online, bán hàng trực tuyến,... đảm bảo nhu cầu người dân, hạn chế lây lan dịch bệnh.

- Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trong tháng ước đạt 5.078,3 tỷ đồng, tăng 4,38% so với tháng trước và giảm 10,91% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 4.190,9 tỷ đồng, tăng 4,22% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm 2020. Hầu hết các nhóm ngành hàng tăng so với tháng trước; nhóm hàng lương thực, thực phẩm dự ước đạt 2.134,5 tỷ đồng, tăng 4,82% so với tháng trước và tăng 8,75% so với cùng kỳ năm 2020; nhóm xăng, dầu dự ước đạt 644,5 tỷ đồng, tăng 4,7% so với tháng trước và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2020. Luỹ kế 10 tháng năm 2021 tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 48.317,2 tỷ đồng, giảm 0,23% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hoá ước đạt 36.350,4 tỷ đồng, tăng 7,14%; doanh thu dịch vụ ước đạt 4.394,4 tỷ đồng, giảm 14,04%; doanh thu lưu trú, ăn uống, dịch vụ lữ hành ước đạt 7.572,4 tỷ đồng, giảm 19,32%. Tỉnh tiếp tục định hướng phát triển kinh tế trong tình hình mới, thực hiện mục tiêu kép, vừa phòng chống dịch tích cực, hiệu quả vừa đẩy mạnh sản xuất. Các doanh nghiệp tăng cường nâng cao chất luợng của một số mặt hàng xuất khẩu nhằm mở rộng thâm nhập vào một số thị truờng “khó tính”, nâng cao giá trị kim ngạch xuất khẩu.

* Công tác quản lý thị trường: Công tác kiểm tra, kiểm soát, quản lý địa bàn được tăng cường; phát hiện nhanh, kịp thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm của các đối tượng kinh doanh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm về buôn bán hàng cấm vẫn còn diễn ra. Trong tháng 9/2021, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra 56 vụ, phát hiện và xử lý 08 vụ vi phạm (trong đó 01 vụ hàng hàng cấm, 01 vụ hàng nhập lậu, 02 vụ vi phạm về đầu cơ, găm hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá, 03 vụ vi phạm trong kinh doanh và 01 vụ vi phạm khác); đã xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 110,2 triệu đồng. Luỹ kế 9 tháng năm 2021 đã kiểm tra 1.020 vụ, phát hiện và xử lý 290 vụ vi phạm  (trong đó 36 vụ hàng hàng cấm, 42 vụ hàng nhập lậu, 10 vụ vi phạm về hàng giả, hàng kém chất lượng và sở hữu trí tuệ, 16 vụ vi phạm về đầu cơ, găm hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá, 56 vụ vi phạm trong kinh doanh, 22 vụ vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm và 108 vụ vi phạm khác); xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 2.934,9 triệu đồng.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 năm 2021 tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,46% so với tháng 12 năm trước; CPI bình quân 10 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,59%.

So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 8 nhóm hàng tăng giá: Giao thông tăng 2,37%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,76%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,31%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,16%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,11%; Bưu chính viễn thông 0,01%. Có 01 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,77%. Có 2 nhóm hàng ổn định: Bưu chính viễn thông 100%; Giáo dục 100%.

2. Hoạt động du lịch

Dịch bệnh Covid -19 vẫn đang diễn biến phức tạp tại một số tỉnh trên cả nước làm ảnh hưởng đến nền kinh tế, trong đó ngành du lịch phải chịu những khó khăn thiệt hại lớn. Trong tháng ngành dịch vụ và du lịch tiếp tục giảm mạnh về doanh thu lẫn lượt khách so với cùng kỳ. Các đơn vị lữ hành gặp nhiều khó khăn, các tour du lịch tạm dừng hoạt động. Dự kiến du lịch Bình Thuận sẽ thực hiện thí điểm mở cửa đón khách bắt đầu từ ngày 24/10/2021, địa bàn thực hiện thí điểm chủ yếu tập trung tại khu vực TP. Phan Thiết.

Lượng khách du lịch trong tháng ước đạt 6,4 ngàn lượt khách, tăng 1,54% so tháng trước và giảm 98,37% so với cùng kỳ năm 2020; ngày khách phục vụ ước đạt 14,7 ngàn ngày khách, tăng 1,89% so với tháng trước và giảm 98,05% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng năm 2021 lượt khách du lịch ước đạt 1.757,8 ngàn lượt khách, giảm 28,78% so với cùng kỳ năm 2020, ngày khách du lịch ước đạt 3.056,1 ngàn ngày khách, giảm 30,14% so với cùng kỳ năm 2020.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 45,9 tỷ đồng tăng 2,68% so với tháng trước và giảm 94,74% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng 2021 ước đạt 4.042,8 tỷ đồng, giảm 46,79% so với cùng kỳ năm 2020.

* Tình hình khách quốc tế: Trong tháng lượng khách quốc tế tăng nhẹ so với tháng trước, dự ước đạt 0,45 ngàn lượt khách, tăng 2,2% so với tháng trước và giảm 86,3% so với cùng kỳ năm 2020; ngày khách phục vụ dự ước đạt 1,9 ngàn ngày khách, tăng 2,4% so với tháng trước và giảm 91,14% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 21,6 ngàn lượt khách, giảm 87,15% so với cùng kỳ năm 2020; ngày khách phục vụ ước đạt 82,3 ngàn ngày khách giảm 86,07% so với cùng kỳ năm 2020.

3. Xuất, nhập khẩu

Mặc dù tình hình dịch Covid-19 đang diễn ra phức tạp nhưng các doanh nghiệp, công ty sản xuất hàng xuất khẩu áp dụng điều kiện sản xuất an toàn “3 tại chỗ”, “1 cung đường, 2 địa điểm” để đảm bảo đơn hàng đã ký kết trước đó.

- Kim ngạch xuất khẩu trong tháng ước đạt 47,13 triệu USD tăng 8,67% so với tháng trước và tăng 2,43% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng năm 2020 ước đạt 472,46 triệu USD, tăng 24,02% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó nhóm hàng thủy sản ước đạt 131,95 triệu USD, tăng 0,67%; nhóm hàng nông sản ước đạt 16,01 triệu USD, tăng 40,88%, nhóm hàng hóa khác ước đạt 324,5 triệu USD, tăng 36,04%.

+ Xuất khẩu trực tiếp lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 466,85 triệu USD, tăng 27,98% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó xuất sang thị trường Châu Á ước đạt 292,03 triệu USD, tăng 19,96% (tăng chủ yếu ở thị trường Nhật Bản các mặt hàng thủy sản, áo, quần dài; thị trường Campuchia các mặt hàng ngô hạt; thị trường Trung Quốc các mặt hàng quặng các loại; thị trường Đài Loan các mặt hàng bộ quần áo, mực tươi, quả tươi). Xuất sang thị trường Châu Âu đạt 54,76 triệu USD, tăng 7,86% (tăng chủ yếu ở thị trường Nga các mặt hàng giày dép, quả tươi; thị trường Đức các mặt hàng tôm thẻ, sản phẩm từ sắt thép; thị trường Italia mặt hàng giày dép). Xuất sang thị trường Châu Mỹ đạt 116,3 triệu USD, tăng 74,24% (tăng chủ yếu ở thị trường Mỹ các mặt hàng giày dép, đồ gỗ nội thất, tôm thẻ; thị trường Belizơ mặt hàng đế giày; thị trường Canada mặt hàng giày dép).

+ Ủy thác xuất khẩu lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 5,6 triệu USD, giảm 65,34% so với cùng kỳ năm 2020.

- Nhập khẩu lũy kế 10 tháng năm 2021 ước đạt 922,95 triệu USD tăng 40,57% so với cùng kỳ năm 2020. Một số mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như thủy sản, thức ăn gia súc và nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may, da giày.

 

 

4. Hoạt động vận tải

Trong tháng, tình hình hoạt động giao thông vận tải vẫn còn bị hạn chế do dịch Covid-19, chỉ thí điểm hoạt động một số tuyến vận tải khách cố định liên tỉnh với 2 chuyến trong ngày. Vận tải khách tuyến cố định nội tỉnh được phép hoạt động tối đa 50% số chuyến theo biểu đồ chạy xe đã đăng ký trước, xe taxi được phép hoạt động 50% số phương tiện đã đăng ký. Các đơn vị vận tải duy trì hoạt động, chủ yếu các tuyến trong tỉnh phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của người dân, hoạt động vận tải hàng hoá, hành khách trên tuyến Phan Thiết - Phú Quý duy trì hoạt động đảm bảo thông suốt, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch theo hướng dẫn, quy trình của cơ quan Y tế... cơ bản đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá trong điều kiện mới.

- Vận tải hành khách:

+ Ước tháng 10 đã vận chuyển 186,78 nghìn hành khách, tăng 88,33% so với tháng trước và giảm 86,53% so với cùng kỳ năm 2020; luân chuyển 9,45 triệu hk.km, tăng 4,09 lần so với tháng trước và giảm 85,90% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng, vận chuyển 7.484,06 nghìn nh khách, giảm 28,57% so với cùng kỳ năm 2020 và luân chuyển 348,44 triệu hk.km, giảm 28,42% so cùng kỳ năm 2020.

+ Xét theo lĩnh vực, trong tháng vận chuyển hành khách đường bộ đạt 185,42 nghìn hành khách và giảm 86,53%; lũy kế 10 tháng, đạt 7.432,82 nghìn hành khách, giảm 37,52% so với năm cùng kỳ năm 2020. Vận chuyển hành khách đường thủy đạt 1,37 nghìn hành khách, giảm 86,45%; lũy kế 10 tháng, đạt 51,23 nghìn hành khách, giảm 45,03% so với cùng kỳ năm 2020. Luân chuyển hành khách đường bộ đạt 9,295 triệu hk.km, giảm 85,90%; lũy kế 10 tháng, đạt 342,88 triệu hk.km, giảm 37,89% so với cùng kỳ năm 2020. Luân chuyển hành khách đường thủy đạt 151,18 nghìn hk.km, giảm 86,06%; lũy kế 10 tháng, đạt 5,56 triệu hk.km, giảm 44,70% so với cùng kỳ năm 2020.

- Vận tải hàng hoá:

+ Ước tháng 10 vận chuyển hàng hoá đạt 144,19 nghìn tấn, tăng 17,80% so với tháng trước và giảm 75,88% so với cùng kỳ năm 2020; luân chuyển hàng hoá đạt 10,614 triệu tấn.km, tăng 29,60% so với tháng trước và giảm 67,77% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng, đã vận chuyển 4.327,31 nghìn tấn hàng hoá, giảm 28,57% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển hàng hoá đạt 236,58 triệu tấn.km, giảm 28,42% so với cùng kỳ năm 2020.

+ Xét theo lĩnh vực, trong tháng vận chuyển hàng hoá đường bộ đạt 143,78 nghìn tấn và giảm 75,89%; lũy kế 10 tháng, đạt 4.322,53 nghìn tấn, giảm 28,48% so với cùng kỳ năm 2020. Vận chuyển hàng hoá đường thủy đạt 0,41 nghìn tấn, giảm 18,81%; lũy kế 10 tháng, đạt 4,78 nghìn tấn, giảm 4,18% so với cùng kỳ năm 2020. Luân chuyển hàng hoá đường bộ đạt 10,57 triệu tấn.km và giảm 67,26%; lũy kế 10 tháng, đạt 236,03 triệu tấn.km, giảm 27,14% so với cùng kỳ năm 2020. Luân chuyển hàng hoá đường thủy đạt 47,98 nghìn tấn.km, giảm 19,96%; lũy kế 10 tháng đạt 550,36 nghìn tấn.km, giảm 4,18% so với cùng kỳ năm 2020.

- Cảng quốc tế Vĩnh Tân: Khối lượng bốc xếp hàng hoá tháng 10 ước đạt 80.000 tấn; lũy kế 10 tháng, đạt 819.551 tấn (trong đó khối lượng bốc xếp ngoài nước đạt 149.581 tấn); các mặt hàng chủ yếu thông qua cảng gồm quặng Ilmenite, cát, tro bay, xi măng, muối xá, thiết bị máy móc. Doanh thu tháng 10 ước đạt 10 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng doanh thu ước đạt 160,045 tỷ đồng.

- Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước tháng 10 đạt 44,53 tỷ đồng, tăng 34,21% so với tháng trước và giảm 67,66% so với cùng kỳ năm 2020. Lũy kế 10 tháng ước đạt 941,06 tỷ đồng, giảm 29,32% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 309,20 tỷ đồng, giảm 36,36%; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 605,94 tỷ đồng, giảm 25,63%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 25,92 tỷ đồng, giảm 15,67%.

5. Bưu chính, viễn thông

Hạ tầng mạng viễn thông 3G, 4G được phát triển mở rộng; đảm bảo an toàn mạng lưới thông tin, thông tin liên lạc thông suốt phục vụ công tácc chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà nước và phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Mạng lưới bưu chính, viễn thông với 1.260 cơ sở kinh doanh dịch vụ bưu chính viễn thông, đạt bán kính phục vụ bình quân 1,4 km/cơ sở. Tổng số thuê bao điện thoại các loại ước đạt: 1.857.700 thuê bao (điện thoại cố định là 30.000 thuê bao), mật độ điện thoại 148 thuê bao/100 dân, đạt 100% kế hoạch. Tổng số thuê bao Internet ước đạt 150.000 thuê bao, tỷ lệ người sử dụng Internet (quy đổi) là 65,25% và đạt 66% kế hoạch năm.

IV. Thu, chi ngân sách; hoạt động tín dụng

1. Thu, chi ngân sách

Ước thu ngân sách tháng 10 năm 2021 đạt 335 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2021, ước đạt 10.472,4 tỷ đồng, đạt 125,87% dự toán năm và tăng 16,01% so với cùng kỳ năm 2020; trong đó, thu nội địa (trừ dầu) đạt 7.636,7 tỷ đồng, đạt 126,86% dự toán năm, tăng 9,0%. Trong tổng thu ngân sách gồm: Thu thuế, phí và thu khác 6.342,97 tỷ đồng, đạt 123,65% dự toán năm, tăng 17,33%; thu tiền nhà, đất 1.293,78 tỷ đồng, đạt 145,37% dự toán năm, giảm 19,14% (trong đó thu tiền sử dụng đất 1.123,32 tỷ đồng, đạt 160,47% dự toán năm, tăng 31,38% so với cùng kỳ năm 2020); thu dầu thô 1.191,77 tỷ đồng, đạt 148,97% dự toán năm và tăng 121,50%.

Tổng chi ngân sách trong tháng 10 năm 2021 ước thực hiện 400 tỷ đồng (chi ngân sách nhà nước 350 tỷ đồng); lũy kế 10 tháng năm 2021, ước đạt 11.488,98 tỷ đồng (chi ngân sách nhà nước 8.193,84 tỷ đồng); trong đó chi đầu tư phát triển 3.495,39 tỷ đồng, chi thường xuyên 4.697,94 tỷ đồng.

2. Hoạt động tín dụng

Tính đến ngày 06/10/2021, dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ 2.057 tỷ đồng/9.475 khách hàng; giảm lãi vay cho 2.703 khách hàng với số tiền lãi được giảm 1,21 tỷ đồng; cho vay mới đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch với lãi suất thấp hơn so với trước khi dịch bệnh xảy ra, doanh số cho vay mới lũy kế từ ngày 23/01/2020 đến ngày 06/10/2021 là 32.516 tỷ đồng, tại thời điểm 06/10/2021, dư nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ là 628,8 tỷ đồng/3.799 khách hàng, dư nợ cho vay mới đối với khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch là 10.454 tỷ đồng/4.732 khách hàng. Tính đến ngày 31/8/2021, nợ xấu (nội bảng) trên địa bàn 1.040 tỷ đồng, chiếm 1,42% tổng dư nợ, tăng 0,36% so với đầu năm (do dịch Covid-19 ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng).

Tình hình thực hiện lãi suất: Hiện nay, lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng 3-3,95%/năm; kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng 3,6-6,7%/năm; kỳ hạn từ trên 12 tháng trở lên 4,4-6,9%/năm; lãi suất cho vay các khoản vay mới ở các lĩnh vực ưu tiên ngắn hạn 4,5%/năm (riêng Quỹ tín dụng nhân dân là 5,5%/năm), các lĩnh vực khác từ 7-9%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 9-11,5%/năm.

Hoạt động huy động vốn (tính đến ngày 31/8/2021), nguồn vốn huy động đạt 44.548 tỷ đồng, tăng 8,73% so với đầu năm và tăng 1,33% so với cùng kỳ năm 2020. Ước đến ngày 31/10/2021, vốn huy động đạt 45.070 tỷ đồng, tăng 10% so với đầu năm.

Hoạt động tín dụng (tính đến ngày 31/8/2021), tổng dư nợ cho vay đạt 73.097 tỷ đồng, tăng 4,91% so với đầu năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, dư nợ cho vay bằng VND đạt 71.902 tỷ đồng, chiếm 98,4% tổng dư nợ; Dư nợ cho vay phân theo các mức lãi suất: lãi suất nhỏ hơn hoặc bằng 6%/năm chiếm khoảng 5% tổng dư nợ, lãi suất từ 6-7%/năm chiếm khoảng 6,7% tổng dư nợ, lãi suất trong khoảng 7-9%/năm chiếm 37,4% tổng dư nợ; lãi suất từ 9-12%/năm chiếm khoảng 46,1% tổng dư nợ, lãi suất trên 12%/năm chiếm khoảng 4,8% tổng dư nợ. Ước đến 31/10/2021, dư nợ đạt 73.856 tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm.

Vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên gắn với thực hiện các chính sách của trung ương và địa phương, trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 39.093 tỷ đồng, chiếm 53,5% tổng dư nợ; cho vay xuất khẩu đạt 521 tỷ đồng, chiếm 0,7% tổng dư nợ; cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 16.378 tỷ đồng, chiếm 22,4% tổng dư nợ.

Chính sách tín dụng đối với thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP: Dư nợ (nợ nội bảng) đạt 866,5 tỷ đồng (cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là 269,95 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ là 591,4 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu 5,15 tỷ đồng). Nợ xấu 40,14 tỷ đồng/4 tàu; nợ cơ cấu lại thời hạn 164,6 tỷ đồng/89 tàu.

Cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Quyết định số 813/QĐ-NHNN và Nghị quyết số 30/NQ-CP: Dư nợ cho vay đạt 355 tỷ đồng phục vụ nuôi tôm giống, tôm thịt, nuôi tôm giống công nghệ cao, chăn nuôi bò sữa công nghệ cao, thanh long theo tiêu chuẩn GlobalGap; dư nợ cho vay chăn nuôi lợn, sản xuất thuốc thú y, thức ăn gia súc đạt 494 tỷ đồng.

 Các đối tượng chính sách vay theo các chương trình tín dụng ưu đãi với dư nợ cho vay đạt 3.173 tỷ đồng/102.333 hộ, trong đó dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội theo Nghị định 100/2015/NĐ-CP đạt 71,1 tỷ đồng/200 hộ.

Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động được vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất theo Quyết định 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ, tính đến 06/10/2021 đã giải ngân cho vay 1.512 triệu đồng cho 05 doanh nghiệp để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 400 lao động, trong đó cho vay để trả lương ngừng việc với số tiền 250 triệu đồng/04 doanh nghiệp/78 lao động và cho vay để trả lương cho lao động phục hồi sản xuất với số tiền 1.262 triệu đồng/01 doanh nghiệp/322 lao động.

Công tác điều hòa tiền mặt, công tác an toàn kho quỹ tiếp tục được thực hiện tốt; hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng hoạt động thông suốt. Mạng lưới ATM, POS tiếp tục hoạt động ổn định, thông suốt và an toàn. Đến 31/8/2021, trên địa bàn có 187 máy ATM, tăng 03 máy so với đầu năm và 1.532 máy POS, giảm 181 máy so với đầu năm, hầu hết máy POS được kết nối liên thông giữa các ngân hàng với nhau thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

Các nhu cầu mua ngoại tệ hợp pháp đều được đáp ứng đầy đủ, kịp thời, các giao dịch mua bán ngoại tệ được thực hiện thông suốt. Diễn biến thị trường vàng, ngoại hối trên địa bàn tiếp tục phát triển theo hướng ổn định. Doanh số mua bán ngoại tệ trong 8 tháng đầu năm 2021 đạt 379,9 triệu USD, doanh số chi trả kiều hối đạt 64,6 triệu USD.

V. Lĩnh vực Văn h - Xã hội

1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao

Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Đã tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 60 năm thảm họa da cam ở Việt Nam (10/8/1961-10/8/2021); 20 năm Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy (04/10/2001-04/10/2021); tuyên truyền phòng, chống ma tuý; chiến dịch tiêm vắc xin phòng COVID-19…

Hoạt động văn nghệ: Trong tháng, tạm dừng các hoạt động biểu diễn để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19.

Hoạt động Thư viện: Số lượt bạn đọc truy cập website 289.745 lượt. Sưu tầm 227 tin, bài chuyên mục Thông tin kinh tế; 40 tin, bài Thông tin tư liệu Bình Thuận số tháng 8/2021.

Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: Không đón khách tham quan để đảm bảo công tác phòng chống dịch Covid-19.

Hoạt động Thể thao: Thể dục thể thao quần chúng trong tháng, đã tạm dừng tổ chức các hoạt động thể thao để phòng, chống dịch Covid-19. Thể thao thành tích cao: Không cử đội thể thao tham gia thi đấu các giải khu vực, quốc gia, quốc tế cho đến khi có thông báo mới. Tính đến tháng 9/2021, tổng số huy chương đạt được 86 huy chương, trong đó 20 HCV, 23HCB, 43 HCĐ.

2. Giáo dục và Đào tạo

Do diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, ngành giáo dục đã triển khai tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chương trình và mục tiêu chất lượng giáo dục, đào tạo ứng phó với đại dịch Covid-19. Đối với bậc Mầm non tiếp tục cho trẻ dng đến trường cho đến khi có thông báo mới. Từ ngày 25/10/2021, học sinh lớp 1 và lớp 2 triển khai thực hiện giải pháp học tập qua truyền hình, học sinh từ lớp 3 đến lớp 5 học trực tuyến. Học sinh Trung học cơ sở tiếp tục hình thức dạy học trực tuyến và các hình thức dạy học khác phù hợp tất cả các môn học.

Toàn tỉnh có 581 trường (gồm 538 trường công lập, 43 trường ngoài công lập; giảm 05 trường Tiểu học công lập do sáp nhập, thành lập mới 01 trường Mầm non tư thục). Trong đó có 182 trường Mầm non, 241 trường Tiểu học, 130 trường THCS, 28 trường Trung học phổ thông. Tổng số trường chuẩn quốc gia 268/538 trường công lập (đạt 49,81%); trong đó: có 49/142 trường Mầm non đạt chuẩn (tỷ lệ 34,50%), 127/240 trường Tiểu học (tỷ lệ 52,91%), 78/130 trường Trung học cơ sở (tỷ lệ 60%), 14/26 trường Trung học phổ thông (tỷ lệ 50%). Tính riêng trong năm 2021, có thêm 07 trường (03 trường Tiểu học và 04 trường Trung học cơ sở) đạt chuẩn quốc gia.

3. Y tế:

Trong tháng tập trung triển khai thực hiện các công tác phòng, chống dịch Covid-19. Tính đến 18 giờ ngày 22/10/2021, toàn tỉnh đã ghi nhận 4.625 trường hợp mắc Covid-19 (La Gi 1.981, Phan Thiết 1.644, Hàm Thuận Bắc 254, Hàm Thuận Nam 238, Tuy Phong 201, Tánh Linh 148, Hàm Tân 56, Đức Linh 66, Bắc Bình 37). Trong đó có 785 ca đang được điều trị tại cơ sở y tế, 3.785 ca đã điều trị khỏi và xuất viện (La Gi 1.942, Phan Thiết 1.238), 65 ca tử vong (10 ca tử vong tại thành phố Hồ Chí Minh). Số trường hợp cách ly 31.342, trong đó đang cách ly là 3.332, hoàn thành cách ly 28.010 (cơ sở y tế 5.782; khu cách ly tập trung của địa phương 25.243; cơ sở cách ly tập trung có thu phí 317). Có 48.840 tường hợp cách ly tại nhà (đang cách ly 4.738, hoàn thành cách ly 44.102); 2.155.337 mẫu đã xét nghiệm; 969.945 người được kiểm tra, giám sát tại các chốt kiểm soát; 8.373 người F1 và 10.600 người F2 của các trường hợp mắc Covid-19 đã điều tra giám sát được; 551.120 người đã tiêm vắc xin (có 479.392 người đã tiêm mũi 1 và 71.728 người tiêm mũi 2).

Trong tháng (từ ngày 15/9-15/10/2021) toàn tỉnh có 273 cas mắc sốt xuất huyết, không có cas tử vong và 01 cas mắc tay chân miệng, có 01 cas mắc sốt rét ác tính. Số bệnh nhân mắc bệnh phong 08 bệnh nhân, 408 bệnh nhân đang quản lý và không có bệnh nhân phong mới tàn tật độ II.

Công tác phòng chống Lao: Có 475 tổng số lượt khám, số bệnh nhân thu dung điều trị 69. Số bệnh nhân lao phổi AFB(+) mới 38.

Số nhiễm HIV mới phát hiện 10 cas (tích luỹ 1.639 cas); có 01 cas chuyển AIDS mới (tích luỹ 1.080 cas); có 03 cas tử vong (tích luỹ 535 cas).

Trong tháng không có xảy ra ngộ độc thực phẩm; các bệnh viện, các đơn vị điều trị chủ động thực hiện tốt công tác thường trực, cấp cứu, điều trị bệnh nhân; thực hiện đầy đủ các quy định chuyên môn của Bộ Y tế; tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn. Trong tháng, số lượt bệnh nhân đến khám, chữa bệnh 38.670 lượt, số bệnh điều trị nội trú 5.364, số bệnh nhân chuyển viện 274, số bệnh nhân tử vong 54. Công suất sử dụng giường bệnh tại các tuyến đạt từ 18,4% đến 74,8%.

4. Lao động - xã hội

- Trong tháng, đã giải quyết việc làm cho 437 lao động, tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp 1.343 người (bằng hình thức trực tuyến); lũy kế 10 tháng năm 2021 đã giải quyết việc làm cho 13.772 lao động, đạt 68,86% so kế hoạch năm; trong đó, cho vay vốn giải quyết việc làm cho 1.175 lao động, đạt 83,93% so với kế hoạch năm. Tuyển mới và đào tạo nghề nghiệp 6.531 người, đạt 108,85% so với kế hoạch năm; đào tạo nghề cho lao động nông thôn 360 người đạt 11,2% kế hoạch năm và bằng 63,9% so với cùng kỳ năm 2020. Vận động Quỹ Đền ơn đáp nghĩa 8,20 tỷ đồng, đạt 136,8% so với kế hoạch năm, tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2020; Quỹ Bảo trợ trẻ em 928,57 triệu đồng, đạt 46,43% kế hoạch năm.

- Công tác chính sách người có công: Trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần  cho 62 đối tượng theo Pháp lệnh Ưu đãi người có công. Trợ cấp mai táng phí cho 19 trường hợp Người có công giúp đỡ cách mạng. Tiếp nhận 02 hài cốt liệt sĩ an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh.

- Kết quả thực hiện Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg, ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ:

+ Chính sách giảm mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: Đã hoàn thành việc giảm mức đóng (bằng 0%) vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cho 3.188 đơn vị, doanh nghiệp/86.400 lao động thuộc diện giảm đóng từ ngày 01/7/2021 đến ngày 30/6/2022 (12 tháng), với tổng số tiền giảm đóng là 27.945.141.000 đồng.

+ Chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất: Giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất cho 13 doanh nghiệp/3.797 lao động, tổng số tiền tạm dừng đóng đến tháng 12/2021 là 22.472.101.000 đồng.

+ Chính sách hỗ trợ người lao động tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương: Đã tiếp nhận hồ sơ tạm hoãn hợp đồng lao động, nghỉ việc không hưởng lương của 208 doanh nghiệp/6.339 lao động/25.034.360.000 đồng; trong đó hỗ trợ thêm cho lao động đang mang thai 140 người/140.000.000 đồng, lao động đang nuôi con dưới 6 tuổi 1.462 người/1.462.000.000 đồng. Tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ cho 129 doanh nghiệp/4.234 lao động/16.352.595.000 đồng; trong đó hỗ trợ thêm cho lao động đang mang thai 66 người/66.000.000 đồng, lao động đang nuôi con dưới 6 tuổi 725 người/725.000.000 đồng. Số hồ sơ còn lại đang hoàn tất thủ tục trình phê duyệt.

+ Chính sách hỗ trợ người lao động ngừng việc: Đã tiếp nhận hồ sơ lao động ngừng việc của 10 doanh nghiệp. UBND tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ cho 07 doanh nghiệp/21 lao động/26.000.000 đồng, trong đó hỗ trợ thêm cho lao động đang mang thai 01 người/1.000.000 đồng; lao động đang nuôi con dưới 6 tuổi 4 người/4.000.000 đồng. Số hồ sơ còn lại đang hoàn tất thủ tục trình phê duyệt.

+ Chính sách hỗ trợ người lao động chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp: Đã tiếp nhận hồ sơ chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 09 người/38.390.000 đồng, trong đó hỗ trợ thêm cho lao động đang mang thai 1 người/1.000.000 đồng; hỗ trợ thêm cho lao động đang nuôi con dưới 6 tuổi 4 người/4.000.000 đồng. Tỉnh đã phê duyệt hồ sơ chấm dứt hợp đồng lao động nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 09 người/38.390.000 đồng, trong đó hỗ trợ thêm cho lao động đang mang thai 1 người/1.000.000 đồng; hỗ trợ thêm cho lao động đang nuôi con dưới 6 tuổi 4 người/4.000.000 đồng.

+ Chính sách hỗ trợ đối với trẻ em và người đang điều trị Covid-19, cách ly y tế: Đã tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ tiền ăn cho 1.640 người (F0)/ 1.830.280.000 đồng; hỗ trợ tiền ăn cho 2.686 người (F1)/3.035.290.000 đồng; hỗ trợ thêm cho 454 trẻ em (F0, F1)/454.000.000 đồng. UBND tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ tiền ăn cho 811 người (F0)/1.178.400.000 đồng; hỗ trợ tiền ăn cho 959 người (F1)/1.144.800.000 đồng; hỗ trợ thêm cho 309 trẻ em (F0, F1)/309.000.000 đồng. Số hồ sơ còn lại đang hoàn tất thủ tục trình phê duyệt.

+ Chính sách hỗ trợ viên chức hoạt động nghệ thuật và người lao động là hướng dẫn viên du lịch: Tỉnh phê duyệt hỗ trợ cho 02 đơn vị/26 viên chức hoạt động nghệ thuật với số tiền 96.460.000 đồng; cho 04 người lao động là hướng dẫn viên du lịch với số tiền 14.840.000 đồng.

+ Chính sách hỗ trợ hộ kinh doanh: Đã tiếp nhận hồ sơ đề nghị hỗ trợ của 429 hộ kinh doanh/1.287.000.000 đồng. Tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ cho 266 hộ kinh doanh/798.000.000 đồng. Số hồ sơ còn lại đang hoàn tất thủ tục trình phê duyệt.

+ Chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất: Tỉnh đã hỗ trợ người sử dụng lao động vay vốn để trả lương ngừng việc, trả lương phục hồi sản xuất cho 05 doanh nghiệp/144 người/1.055.000.000 đồng.

+ Chính sách hỗ trợ lao động không giao kết hợp đồng lao động (lao động tự do) và đối tượng đặc thù khác theo điểm 12, mục II Nghị quyết số 68 của Chính phủ và Quyết định số 2108/QĐ-UBND của UBND tỉnh: Đã tiếp nhận hồ sơ hỗ trợ cho 12.354 người/18.531.000.000 đồng. UBND tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ cho 5.718 người/8.577.000.000 đồng.

+ Tỉnh ban hành: Công văn số 3036/UBND-KGVXNV ngày 18/8/2021 gửi Bộ Lao động-TB&XH, Bộ Tài chính về việc hỗ trợ gạo cho tỉnh Bình Thuận thực hiện giãn cách xã hội; Quyết định số 2127/QĐ-UBND ngày 25/8/2021 về việc phân bổ gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ cho người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận; Kế hoạch số 3168/KH-UBND ngày 25/8/2021 về tổ chức tiếp nhận và cấp phát gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ cho người dân gặp khó khăn do dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Theo đó, tỉnh đã tiếp nhận và hỗ trợ 68.930 hộ/267.899 khẩu, mỗi khẩu hỗ trợ 15kg gạo, tương ứng với tổng số gạo hỗ trợ là 4.018.485 kg. Từ ngày 28/8/2021 cho đến ngày 9/9/2021, Cục dữ trữ Nhà nước khu vực Nam Trung bộ đã thực hiện xong việc giao gạo cho 09 huyện, thị xã và Tp. Phan Thiết (trừ huyện Phú Quý).

+ Tính đến nay đã tổ chức đưa 08 đợt với 2.327 người dân trở về tỉnh, cụ thể: Tp. Hồ Chí Minh 2.086 người (đợt 1: 151 người, đợt 2: 279 người, đợt 3: 338 người, đợt 4: 388 người, đợt 5: 430 người và đợt 6: 500 người); Long An 08 người và Bình Dương: 233 người.

6. Hoạt động bảo hiểm

Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT, trả sổ BHXH cho người lao động cơ bản đúng kế hoạch.

Tính đến ngày 30/9/2021, toàn tỉnh có 83.777 người tham gia BHXH bắt buộc, giảm 6,4% so với cùng kỳ năm 2020; có 75.302 người tham gia BHTN, giảm 6,2%; số người tham gia BHXH tự nguyện 11.518 người, tăng 54,6%; số người tham gia BHYT 987.305 người (bao gồm thẻ BHYT của thân nhân do Bộ Quốc phòng cung cấp là 11.161 người), giảm 1,3%. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 87,2% dân số.

Lũy kế 9 tháng đã xét duyệt, giải quyết cho 41.811 lượt người hưởng các chế độ BHXH, BHTN, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó hưởng các chế độ BHXH dài hạn 699 lượt người; hưởng trợ cấp BHXH một lần 10.063 lượt người; hưởng chế độ BHXH ngắn hạn 23.283 lượt người; hưởng trợ cấp BHTN 7.766 lượt người.

Tính đến ngày 30/9/2021, tổng số đối tượng đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH dài hạn 16.661 người; tổng số thu 1.776,3 tỷ đồng, tăng 0,2% so với cùng kỳ năm 2020; tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 154,9 tỷ đồng, tăng 46,96% so với cùng kỳ năm 2020.

Do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Nhiều doanh  nghiệp thuộc ngành du lịch, nhà hàng, khách sạn, dịch vụ, giao thông, vận tải, giày da, may mặc, cơ sở giáo dục, mầm non tạm ngưng hoạt động hoặc hoạt động cầm chừng đã ảnh hưởng đến công tác thu phát triển người tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh.

7. Tai nạn giao thông (từ 15/9 - 14/10/2021):

Số vụ tai nạn giao thông 10 vụ, so với tháng trước tăng 04 vụ và so với cùng kỳ năm 2020 giảm 27 vụ. Luỹ kế 10 tháng năm 2021, đã xảy ra 212 vụ (trong đó đường sắt không xảy ra), so với cùng kỳ năm 2020 giảm 71 vụ.

Số người bị thương 07 người bằng so với tháng trước tăng 03 người và giảm 15 người so với cùng kỳ năm 2020. Luỹ kế 10 tháng năm 2021, có 119 người, giảm 73 người so với cùng kỳ năm 2020.

Số người chết 04 người, tăng 02 người so với tháng trước và giảm 21 người so với cùng kỳ năm 2020. Luỹ kế 10 tháng năm 2021 có 135 người chết, so với cùng kỳ năm trước giảm 30 người.

Trong tháng không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặt biệt nghiêm trọng. Số vụ tai nạn giảm so với cùng kỳ năm 2020 nguyên nhân do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 toàn tỉnh vẫn đang thực hiện phong tỏa, cách ly theo vùng và các phương tiện vận tải cũng đang thực hiện thí điểm 1 ngày 2 chuyến.

8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường

- Thiên tai: Trong tháng xảy ra 12 vụ thiên tai, ước giá trị thiệt hại 12,62 tỷ đồng. Trong đó Bắc Bình xảy ra 5 vụ mưa lớn gây lũ, ngập lụt làm ngập 49,7 ha bắp (trong đó 1 ha đang cho trái, 2 ha 20 ngày tuổi), 3,9 ha đậu, 218,6 ha lúa (trong đó 160 ha lúa từ 35-70 ngày tuổi), vỡ cửa điều tiết 1 hồ chứa nước… (ước thiệt hại 820 triệu); Hàm Thuận Bắc 01 vụ mưa lớn gây ngập lụt tại làm ngập 656 ha lúa, 313 ha thanh long, 398 ha hoa màu, chết 02 con bò, sạt lở 2.000m đường giao thông, 15m kênh mương (ước thiệt hại 5.360 triệu); Đức Linh 02 vụ mưa lớn kèm gió mạnh, ngập lụt và 03 vụ lốc xoáy, sét đánh làm ngập úng 82 ha lúa từ 5-7 ngày tuổi, 143,3 ha lúa hè-thu đang thu hoạch, 80 ha lúa mới gieo, tốc mái 02 căn nhà, ngã 2,5ha cây lâu năm điều, cao su, tiêu, mít, sầu riêng..., 01 người bị chết do sét đánh, tốc mái 01 nhà thờ Giáo xứ (ước thiệt hại 3.040 triệu đồng); Tánh Linh 02 vụ mưa lớn gây ngập lụt, lũ quét cục bộ làm ngập 1.361 ha lúa, 5 ha điều, 3,4 ha bắp, 3 ha đậu, chết 1 con bò, cuốn trôi 1.750 kg lúa và sạt lở một số công trình thủy lợi..., sập 01 mái vòm và đổ 90 m tường rào của các hộ dân, đổ ngã 60m tường rào trường học, sạt lở nhiều tuyền đường giao thông nội đồng và kênh thủy lợi và hư hại một số tài sản khác... (ước thiệt hại 3.400 triệu đồng). Lũy kế 10 tháng xảy ra 47 đợt thiên tai, ước tổng giá trị thiệt ban đầu 51,99 tỷ đồng.

- Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 03 vụ cháy (bằng so với cùng kỳ), không có người bị thương, thiệt hại 501,5 triệu đồng, không xảy ra nổ. Lũy kế 10 tháng có 48 vụ cháy (giảm 17 vụ so cùng kỳ), thiệt hại 4.901,2 triệu đồng.

- Vi phạm môi trường: Trong tháng phát hiện 01 vụ xử phạt 228,2 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng, đã xảy ra 25 vụ (tăng 8 vụ  so với cùng kỳ); tổng tiền đã xử phạt 3.263,5 triệu đồng.

Kèm file số liệu:  KTXHthang102021.pdf 




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/