TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
Tình hình kinh tế xã hội Quý I năm 2018

Nhìn chung, trong quý I/2018, tình hình sản xuất nông nghiệp tương đối thuận lợi, tiến độ xuống giống các loại cây trồng đúng tiến độ thời vụ, đạt và vượt kế hoạch đề ra. Sản xuất công nghiệp trong quý I/2018 tăng trưởng khá (tăng 8,16% so với cùng kỳ năm 2017). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 3/2018 ước đạt 4.082 tỷ đồng, tăng 12,58% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu hàng hoá quý I/2018 của tỉnh có nhiều tín hiệu khởi sắc, hứa hẹn nhiều thuận lợi cho cả năm 2018. Các vấn đề xã hội tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực...

I. Nông-Lâm-Thuỷ sản

1. Trồng trọt:

* Cây hàng năm: Nhiệm vụ trọng tâm của ngành trồng trọt trong tháng 3/2018 là tiếp tục xuống giống các loại cây trồng, đồng thời kết thúc việc gieo trồng, chuyển sang giai đoạn chăm sóc và thu hoạch. Tính đến ngày 15/3/2018, toàn tỉnh đã gieo cấy vụ đông xuân 2017 – 2018  là 48.993 ha lúa đông xuân, đạt 106,5% kế hoạch vụ và tăng 3,46% so vụ cùng kỳ năm trước, trong đó:

- Cây lúa, diện tích gieo trồng 37.661 ha, đạt 113,1% kế hoạch vụ và tăng 7,53% so với vụ cùng kỳ. Diện tích gieo trồng lúa vụ đông xuân 2017 – 2018 tăng so kế hoạch vụ và vụ cùng kỳ là do lượng nước tưới cung cấp đầy đủ, một số diện tích ruộng trồng rau, đậu năm trước chuyển sang trồng lúa, giá lúa vụ đông xuân năm nay tăng so năm trước, tạo phấn khởi cho người dân tăng diện tích. Cây lúa phát triển tốt, hiện đang trong giai đoạn đẻ nhánh làm đòng, trong đó một số diện tích gieo trồng sớm cho thu hoạch là 6.067 ha.

Chương trình xã hội hoá giống lúa, vụ đông xuân 2017- 2018, toàn tỉnh thực hiện được 497 ha lúa giống; đồng thời, tiếp tục duy trì 3.000 ha lúa chất lượng cao tại huyện Tánh Linh. Để phát huy hiệu quả sử dụng đất và tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới, trong vụ đông xuân 2017- 2018, toàn tỉnh thực hiện chuyển đổi 1.772 ha trên nền đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác (bắp 1.405 ha, dưa hấu 140 ha, đậu phụng 157 ha, sen 70 ha).

- Cây bắp, diện tích gieo trồng 3.124 ha, đạt 74,4% kế hoạch vụ và bằng 77,66% so với vụ cùng kỳ. Diện tích bắp giảm ở Bắc Bình do hệ thống kênh mương đã hoàn thiện, nguồn nước trong vụ dồi dào nên một số diện tích trồng bắp năm trước được chuyển sang trồng lúa, tập trung chủ yếu ở xã Phan Sơn và Phan Lâm; nửa cuối tháng 1/2018 xuất hiện 2 đợt mưa lớn cục bộ ở Đức Linh vào thời điểm xuống vụ, gây ngập úng không thuận lợi để gieo trồng bắp nên bà con đã chuyển một số diện tích sang trồng lúa và đậu phộng; Ở Tánh Linh đã chuyển sang cây trồng khác chủ yếu là đậu phộng.

- Cây trồng khác, diện tích gieo trồng 8.208 ha, bằng 98,8% so với vụ cùng kỳ. Hiện tại người dân đang áp dụng tốt mô hình 2 lúa 1 màu với điều kiện thời tiết cực đoan, diễn biến phức tạp, mô hình này sẽ đem lại hiệu quả thiết thực, là một giải pháp tốt để nông dân thích ứng với biến đổi khí hậu.

* Cây lâu năm: Các cây lâu năm trồng chính của tỉnh tiếp tục được các nhà vườn tiến hành chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, đang trong thời gian ra hoa, kết trái cho vụ thu hoạch tới.

- Thanh long, trong quý I/2018, đang chong đèn trái vụ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, hiện thị trường Trung Quốc đang có nhu cầu tiêu thụ tăng, giá bán thanh long đang ở mức ổn định có lời cho người sản xuất. Tính đến cuối tháng 3/2018 toàn tỉnh có 9.510,32 ha được công nhận đạt tiêu chuẩn VietGap, đạt 97,07% kế hoạch giao.

- Cao su, đang kết thúc vụ thu hoạch, nhà vườn tập trung bón phân, phòng trừ sâu bệnh chuẩn bị cho vụ thu hoạch tới. Hiện thị trường xuất khẩu cao su có dấu hiện phục hồi, tuy nhiên giá mủ cao su vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực.

- Cây điều, quý I/2018 là thời điểm điều ra hoa kết trái, một số diện tích đang bắt đầu thu hoạch, so với năm 2017, năm nay tình hình thời tiết thuận lợi cho cây điều, sản lượng thu hoạch dự ước tăng khá.

- Cây tiêu, quý I/2018 là thời điểm thu hoạch chính, hiện đang ở thời điểm cuối vụ và kết thúc thu hoạch; do giá tiêu thấp chưa có dấu hiệu phục hồi, ảnh hưởng của sâu bệnh, nhất là bệnh chết chậm chưa có thuốc đặc trị, người trồng tiêu chưa phát triển thêm diện tích trồng mới.

- Các cây lâu năm còn lại, đang được chăm sóc và phát triển bình thường, diện tích biến động không đáng kể.

* Tình hình sâu bệnh:

- Cây lúa, diện tích nhiễm rầy nâu toàn tỉnh là 544 ha. Sâu đục thân diện tích nhiễm là 182 ha. Sâu cuốn lá nhỏ diện tích nhiễm bệnh là 247 ha. Bệnh khô đầu lá, cháy bìa diện tích nhiễm bệnh là 1.091 ha. Bệnh khô vằn và ốc bươu vàng với diện tích là 117 ha.

- Thanh long, diện tích nhiễm bệnh đốm nâu trong kỳ là 934 ha, giảm 3.501 ha so với cùng kỳ năm 2017. Bệnh thối rễ, teo tóp cành thanh long phát sinh gây hại trên các vườn thanh long với diện tích nhiễm bệnh là 629 ha, tăng 169 ha so với cùng kỳ năm trước.

- Cây tiêu, diện tích nhiễm bệnh chết nhanh, chết chậm là 700 ha.

- Cây điều, diện tích nhiễm sâu các loại 1.848 ha; bệnh thán thư khô bông nhiễm 1.010 ha.

* Thiệt hại nông nghiệp do thiên tai, trong quý I/2018 (trong tháng 01/2018) do ảnh hưởng của không khí lạnh, thời tiết khu vực huyện Đức Linh xuất hiện mưa to trái mùa kèm theo gió lớn làm một số diện tích bắp trong giai đoạn trổ cờ bị ngã đổ và hư hỏng 32 ha (xã Đa Kai 17 ha, xã Sùng Nhơn 15 ha). Mức độ thiệt hại từ 30%-70% là 29,5 ha; trên 70% là 2,5 ha.

2. Chăn nuôi:

- Chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, ước thời điểm 15/3/2018 toàn tỉnh có 8.970 con trâu, giảm 0,23% so với cùng kỳ, 163.842 con bò, tăng 0,33% so với cùng kỳ.

- Chăn nuôi gia cầm, vẫn duy trì được tổng đàn, đảm bảo nguồn cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng, ước thời điểm 15/3/2018 toàn tỉnh có 3.210,2 ngàn con gia cầm tăng 1,33% so với cùng kỳ.

- Chăn nuôi lợn, ước thời điểm 15/3/2018 toàn tỉnh có 252.615 con, giảm 5,3% so với cùng kỳ, do quý I/2018 nhằm dịp tết nhu cầu chế biến và tiêu thụ thịt lợn cao, giá lợn hơi bắt đầu tăng trở lại, tuy nhiên vẫn chưa được như kỳ vọng, người nuôi lợn vẫn trong tình trạng hoà vốn, trong khi chi phí thức ăn, thuốc phòng bệnh, nhân công lao động không giảm, khiến người nuôi lợn e ngại tái đàn. Nhiều hộ nhỏ lẻ vẫn chưa tái đàn, chờ thời cơ thích hợp; các gia trại, trang trại, doanh nghiệp vẫn tiếp tục nuôi, nhưng có xu hướng phát triển cầm chừng, không tăng quy mô tổng đàn.

* Công tác phòng, chống dịch: Trong quý I/2018, địa bàn toàn tỉnh không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm như cúm gia cầm, lở mồm long móng, bệnh heo tai xanh và một số dịch bệnh thông thường khác. Để chủ động ngăn chặn dịch bệnh gia súc, gia cầm, ngành thú y tỉnh đã chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh đồng thời chỉ đạo các trạm trực thuộc tổ chức giám sát, phát hiện sớm, nhằm xử lý, khống chế kịp thời các ổ dịch bệnh nếu có.

- Công tác tiêm phòng, trong tháng 3/2018 các địa phương trên toàn tỉnh đã tổ chức tiêm phòng 1.097.101 liều vắc xin, lũy kế quý I/2018 2.811.037 liều.

- Kiểm dịch động vật, trong tháng 3/2018 đã kiểm dịch đàn heo 129.321 con, lũy kế quý I/2018 421.015 con; 311 con trâu, bò, lũy kế quý I/2018 3.172 con; 195.297 con gia cầm, lũy kế quý I/2018 758.842 con; 300 con dê, lũy kế quý I/2018 550 con.

- Kiểm soát giết mổ, ngành thú y tỉnh thực hiện giám sát thường xuyên điều kiện vệ sinh thú y đối với các cơ sở kinh doanh giết mổ. Đoàn kiểm tra liên ngành các huyện Đức Linh, Tánh Linh, Phan Thiết, Hàm Thuận Bắc, Hàm Tân, La Gi tiến hành kiểm tra các quầy, sạp kinh doanh thịt gia súc, gia cầm tại chợ, kiểm soát giết mổ: 40 con bò, lũy kế quý I/2018 122 con; 1.805 con heo, lũy kế quý I/2018 6.887 con; 225 con dê, lũy kế quý I/2018 828 con; 8.610 con gia cầm, lũy kế quý I/2018 21.950 con.

3. Lâm nghiệp:

Đây là tháng mùa khô nên hoạt động trồng rừng không được triển khai. Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ rừng. Công tác phòng, chống cháy rừng được triển khai tích cực. Trong quý I/2018, toàn tỉnh đã xây dựng 1.306,4 km đường băng cản lửa, 7 chòi canh lửa; trang bị 170 máy móc thiết bị và 2.851 công cụ thủ công, sẵn sàng ứng phó khi có tình huấn cháy khẩn cấp xảy ra, thành lập 120 ban chỉ huy phòng chống cháy rừng các cấp. Bắt buộc các hộ dân sống trong khu vực có rừng ký cam kết bảo vệ rừng, không gây cháy hoặc phát hiện cháy phải báo ngay cho trạm bảo vệ rừng gần nhất.

Tình hình vi phạm lâm luật: vi phạm Luật bảo vệ phát triển rừng 31 vụ, lũy kế quý I/2018 114 vụ. Tổng số vụ vi phạm được xử lý trong tháng 3/2018 là 30 vụ (chủ yếu là xử phạt hành chính), lũy kế quý I/2018 117 vụ. Số lâm sản bị tịch thu trong tháng 3/2018 là là 35,6 m3, tịch thu 06 xe máy, 16 phương tiện khác, lũy kế quý I/2018 số lâm sản bị tịch thu 149,8 m³, 04 ô tô máy kéo, 32 xe máy, 29 phương tiện khác. Tổng số tiền phạt đã nộp vào ngân sách trong tháng là 189,5 triệu đồng, lũy kế quý I/2018 1.206,8 triệu đồng.

4. Thuỷ sản:

- Sản lượng thuỷ sản tháng 3/2018 ước đạt 17.102,3 tấn, tăng 2,56% so cùng kỳ. Luỹ kế quý I/2018 đạt 42.553,1 tấn, tăng 2,01% so với cùng kỳ năm trước, đạt 19,13% kế hoạch năm (trong đó cá đạt 23.879,1 tấn, tăng 3% so cùng kỳ; tôm đạt 2.603,3 tấn, giảm 7,64%). Cụ thể:

+ Sản lượng nuôi trồng tháng 3/2018 ước đạt 1.117,9 tấn, tăng 1,21% so với cùng kỳ. Luỹ kế quý I/2018 đạt 3.328,8 tấn, tăng 2,85% so cùng kỳ, đạt 26,74% kế hoạch năm.

+ Sản lượng khai thác thuỷ sản tháng 3/2018 ước đạt 15.984,4 tấn, tăng 2,65% so cùng kỳ. Luỹ kế quý I/2018 đạt 39.224,3 tấn, tăng 1,94% so với cùng kỳ, đạt 18,68% kế hoạch năm, trong đó: khai thác biển ước đạt 15.924 tấn tăng 2,65%, luỹ kế quý I/2018 đạt 39.044,88 tấn, tăng 1,94% so với cùng kỳ; khai thác nội địa tháng 3/2018 ước đạt 60,41 tấn tăng 1,7% so cùng kỳ, luỹ kế quý I/2018 đạt 179,4 tấn, tăng 2,62%)..

- Sản xuất giống thủy sản quý I/2018 ổn định, con giống đáp ứng nhu cầu cho thị trường cả về số lượng và chất lượng; chất lượng tôm giống được giữ vững. Tình hình nuôi ở các địa phương phát triển tốt, dịch bệnh không xảy ra, chất lượng thủy sản giống được kiểm dịch tốt. Sản lượng giống sản xuất chủ yếu là tôm giống, ước tháng 3/2018 sản lương tôm giống sản xuất đạt 2.600 triệu post, tăng 12,07% so cùng kỳ, luỹ kế quý I/2018 đạt 5.891 triệu post, tăng 5,57% so với cùng kỳ; cá giống các loại luỹ kế quý I/2018 đạt 4,4 triệu con tăng 4,76% so cùng kỳ.

- Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, được ngành chức năng triển khai thường xuyên, liên tục nhằm ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm trong khai thác và đánh bắt thủy, hải sản. Số vụ vi phạm trong tháng 3 (đến 07/03/2018) là 03 vụ, lũy kế từ đầu năm đến 07/03/2018 có 14 vụ vi phạm: sử dụng ngư cụ cấm 04 vụ, hành nghề giã cào đáy sai vùng khai thác 04 vụ, hành nghề lặn trái phép 01 vụ, không mang theo giấy đăng ký tàu cá 01 vụ, hành nghề lặn trái phép 01 vụ, sử dụng công cụ kích điện 03 vụ..

5. Xây dựng nông thôn mới:

Trong quý I/2018, tỉnh đã hoàn thành thẩm định hồ sơ và mức độ đạt tiêu chí xét công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017, số xã được công nhận các xã đạt chuẩn nông thôn mới năm 2017 là 11 xã gồm: xã Phước Thể huyện Tuy Phong; xã Phan Hiệp và Phan Hòa huyện Bắc Bình; xã Hàm Liêm huyện Hàm Thuận Bắc; xã Thuận Quý và Hàm Kiệm huyện Hàm Thuận Nam; xã Tân Hà và Tân Phúc huyện Hàm Tân; xã Đồng Kho huyện Tánh Linh; xã Đức Tín và xã Đa Kai huyện Đức Linh.

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, năm 2018 toàn tỉnh có 10 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, bao gồm: xã Tiến Thành Tp. Phan Thiết; xã Tân Hải và Tân Phước Tx. La Gi; xã Vĩnh Hảo  huyện Tuy Phong; xã Hoà Thắng huyện Bắc Bình; xã Hàm Thắng huyện Hàm Thuận Bắc; xã Hàm Cường huyện Hàm Thuận Nam; xã Đức Bình huyện Tánh Linh; xã Trà Tân và Đức Chính huyện Đức Linh.

Thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hoá giai đoạn 2017-2020 theo Quyết định số 676/QĐ-TTg, ngày 18/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh đã chọn huyện Đức Linh để triển khai thí điểm thực hiện Đề án trên.

Nhìn chung, trong quý I/2018, tình hình sản xuất nông nghiệp tương đối thuận lợi, tiến độ xuống giống các loại cây trồng đúng tiến độ thời vụ, đạt và vượt kế hoạch đề ra. Chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển ổn định do không bị ảnh hưởng bởi thời tiết và dịch bệnh, đảm bảo nguồn cung đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018; riêng chăn nuôi lợn, mặc dù giá thịt lợn hơi trong tháng tăng nhẹ nhưng vẫn không đảm bảo cho người chăn nuôi có lãi nên quy mô đàn tiếp tục giảm, người chăn nuôi vẫn trong tình trạng hoà vốn, trong khi chi phí thức ăn, thuốc phòng bệnh, nhân công lao động không giảm, khiến người chăn nuôi lợn e ngại tái đàn. Tình hình thời tiết không quá ảnh hưởng đến nuôi trồng và ngư trường khai thác thuỷ sản; sản xuất giống thuỷ sản và chất lượng con giống được đảm bảo, nuôi trồng thuỷ sản có nhiều dấu hiệu tích cực; tình hình dịch bệnh trên tôm nuôi từ đầu năm đến nay tương đối ổn định không xảy ra.

II. Công nghiệp; đầu tư phát triển; đăng ký kinh doanh và đăng ký đầu tư:
1. Công nghiệp:

Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 3/2018 (tính theo giá so sánh 2010) ước đạt 2.173,0 tỷ đồng, luỹ kế quý I đạt 6.444,4 tỷ đồng (đạt 22,38% kế hoạch năm), tăng 8,16% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Công nghiệp khai khoáng 152,8 tỷ đồng (giảm 0,95%); công nghiệp chế biến chế tạo 3.631,6 tỷ đồng (tăng 4,89%); sản xuất và phân phối điện đạt 2.593,8 tỷ đồng (tăng 13,73%); cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải, rác thải đạt 66,1 tỷ đồng (tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước).

         Các sản phẩm sản xuất trong quý tăng gồm: Cát sỏi các loại (tăng 2,52% so với cùng kỳ năm 2017), đá khai thác (tăng 4,62%), thủy sản đông lạnh (tăng 4,03%), thủy sản khô (tăng 1,39%), nước mắm (tăng 3,25%), hạt điều nhân (tăng 2,22%), thức ăn gia súc (tăng 2,19%), nước khoáng (tăng 6,55%), quần áo may sẵn (tăng 5,96%), gạch các loại (tăng 3,58%), nước máy sản xuất (tăng 8,15%), điện (tăng 13,83%), sơ chế mũ cao su (tăng 0,06%), đồ gỗ và các sản phẩm gỗ (tăng 14,47%), giày dép các loại (tăng 32,18%). Sản phẩm giảm trong quý là muối hạt (giảm 6,33% so với cùng kỳ năm 2017).

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trong quý I/2018 tăng trưởng khá (tăng 8,16% so với cùng kỳ năm 2017); trong đó, nổi bật là ngành sản xuất và phân phối điện có mức tăng khá cao (tăng 13,73%) do các công ty sản xuất điện hoạt động ổn định và nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 4 bắt đầu phát điện thương phẩm nên đã tác động đến tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, các ngành: Công nghiệp chế biến chế tạo và ngành cung cấp nước cũng hoạt động ổn định; một số sản phẩm như: Nước khoáng, quần áo may sẵn, nước máy, đồ gỗ, giày dép các loại,.. tăng khá do nhận được nhiều đơn đặt hàng và các đơn vị tăng cường hoạt động sản xuất phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân và xuất khẩu. Riêng công nghiệp khai khoáng giảm do muối đứng ở giá thấp, lượng tồn kho nhiều, mức tiêu thụ chậm đã gây khó khăn cho hoạt động sản xuất muối hiện nay.

 

2. Đầu tư phát triển:

Trong tháng, vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện từ nguồn vốn ngân sách nhà nước ước đạt 93,06 tỷ đồng; lũy kế quý I/2018 đạt 226,6 tỷ đồng, giảm 6,43% so với cùng kỳ năm 2017. Cụ thể: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước thực hiện 162,6 tỷ đồng (giảm 7,31% so với cùng kỳ năm 2017); vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 58,3 tỷ đồng (giảm 2,72%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã 5,7 tỷ đồng (giảm 16,4% so với cùng kỳ năm 2017).

Tình hình chuẩn bị triển khai các dự án trọng điểm năm 2018: Theo Nghị quyết số 41/2017/NQ-HĐND ngày 15/12/2017 của Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Thuận về kế hoạch đầu tư công và danh mục các dự án trọng điểm của tỉnh năm 2018 và Quyết định số 3724/QĐ-UBND ngày 26/12/2017 của UBND tỉnh Bình Thuận về việc giao kế hoạch vốn đầu tư phát triển và danh mục các công trình trọng điểm của tỉnh năm 2018. Trong đó xác định một số công trình trọng điểm như sau:

- Dự án Kênh tiếp nước Biển Lạc: Tổng mức đầu tư là 377 tỷ đồng, đầu tư từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ và ngân sách tỉnh. Lũy kế giá trị khối lượng thực hiện từ khởi công đến hết 30/12/2017: 240,905 tỷ đồng, giải ngân 240,2 tỷ đồng. Kế hoạch 2018 ngân sách tỉnh bố trí 40 tỷ đồng. Hiện nay, đơn vị thi công đang thực hiện đào đắp đoạn kênh từ K0 đến K10+930 với giá trị khối lượng thực hiện: 102 triệu đồng; kế hoạch vốn 2018 chưa giải ngân.

- Dự án phòng chống lũ lụt, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu gắn với cải tạo môi trường sông Cà Ty: Kế hoạch 2018 chưa bố trí vốn.

- Khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá đảo Phú Quý: Tổng mức đầu tư dự án là 544,693 tỷ đồng. Trong đó: Vốn ngân sách Trung ương 540 tỷ đồng, vốn ngân sách địa phương 4,779 tỷ đồng. Khối lượng thực hiện tính đến 31/12/2017: 120 tỷ đồng. Kế hoạch 2018 chưa bố trí vốn, từ đầu năm 2018 đến nay, đơn vị thi công chưa triển khai công trình.

- Dự án đường Lê Duẩn đoạn từ đường Trường Chinh đến đường Lê Hồng Phong: Tổng mức đầu tư 417 tỷ đồng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách tập trung tỉnh và vốn xổ số kiến thiết. Lũy kế kế hoạch vốn đã giải ngân của dự án từ khởi công đến ngày 31/12/2017: 204,3 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018 đã bố trí dự án 70 tỷ đồng.

- Đường Hùng Vương (đoạn từ vòng xoay đại lộ Tôn Đức Thắng đến giáp cầu Hùng Vương): Tổng chiều dài tuyến đường là 888,9m, tổng mức đầu tư 62,2 tỷ đồng. Lũy kế giá trị khối lượng thực hiện từ khởi công đến nay: 48,6 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018 đã bố trí dự án 3,58 tỷ đồng.

- Sân bay Phan Thiết: Tổng mức đầu tư là 1.694 tỷ đồng. Lũy kế giá trị thực hiện đến nay: 94,784 tỷ đồng; lũy kế cấp phát vốn: 73,474 tỷ đồng. Kết quả thực hiện: Đã cơ bản thực hiện xong và bàn giao toàn bộ mặt bằng sân bay giai đoạn đến năm 2030 là 543ha. Lũy kế kế hoạch vốn đã bố trí 178 tỷ đồng, bao gồm: Vốn ngân sách tỉnh 43 tỷ đồng và vốn Bộ Quốc phòng 135 tỷ đồng. Bộ Quốc phòng chưa bố trí kế hoạch vốn năm 2018. Lũy kế kế hoạch vốn đã giải ngân từ khởi công đến nay 124,44 tỷ đồng.

- Đường từ Cầu Hùng Vương đến đường ĐT 706B: Tổng mức đầu tư 285,994 tỷ đồng, Lũy kế kế hoạch vốn đã bố trí cho dự án đến ngày 31/12/2017: 67 tỷ đồng. Lũy kế giá trị khối lượng thực hiện đến nay: 97,68 tỷ đồng. Giải ngân 65,74 tỷ đồng. Kế hoạch vốn năm 2018: Bố trí 55 tỷ đồng.

- Dự án đường Lê Duẩn đoạn từ đường Lê Hồng Phong đến đường Trần Hưng Đạo: Tổng chi phí là 243,8 tỷ đồng. Lũy kế giá trị thực hiện đến nay: 41,9 tỷ đồng; lũy kế cấp phát vốn từ đầu dự án đến nay: 30,2 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay chưa cấp phát vốn.

- Mở rộng đường từ Đá Ông Địa đến khu du lịch Hoàng Ngọc: Tổng mức đầu tư 97,096 tỷ đồng (đường có chiều dài 6.009 m, chiều rộng mặt đường 09 m). Lũy kế bố trí cho dự án đến nay: 29,24 tỷ đồng.

- Nhà hát và triển lãm văn hóa nghệ thuật tỉnh Bình Thuận: Tổng mức đầu tư: 200,012 tỷ đồng; kế hoạch 2018 bố trí 27 tỷ đồng từ nguồn xổ số kiến thiết.

Năm 2018, tỉnh chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tiếp tục huy động các nguồn vốn để đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, các khu cụm công nghiệp. Ưu tiên vốn bố trí cho các công trình chuyển tiếp, các công trình trọng điểm bức xúc và các công trình có khả năng hoàn thành trong năm 2018. Tập trung tháo gỡ vướng mắc, khó khăn cho các doanh nghiệp. Đặc biệt trong công tác đền bù giải tỏa, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công và chất lượng các công trình trọng điểm, quan trọng, bức xúc theo kế hoạch đề ra.

3. Đăng ký kinh doanh

Trong Quý I/2018 (từ 01/01 đến 14/3/2018) đã cấp đăng ký mới 110 trường hợp (nếu tính cả chi nhánh, văn phòng đại diện, điểm kinh doanh là 143 trường hợp), đạt 97,3% so với cùng kỳ năm 2017; tổng vốn đăng ký 3.169,5 tỷ đồng (tăng 3,6 lần so với cùng kỳ năm 2017); bình quân vốn trên một doanh nghiệp đạt 28,8 tỷ đồng. Giải thể 62 doanh nghiệp (tăng 32 doanh nghiệp so cùng kỳ năm 2017), thông báo tạm ngừng 53 doanh nghiệp (giảm 5 doanh nghiệp so cùng kỳ năm 2017), số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động là 39 doanh nghiệp (tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước).

Công tác quản lý doanh nghiệp sau đăng ký kinh doanh: Đã lập biên bản vi phạm 04 trường hợp, chuyển đề nghị thanh tra xử phạt 02 trường hợp vi phạm quy định Luật Doanh nghiệp, nhắc nhở 02 trường hợp. Đã ra thông báo vi phạm 01 doanh nghiệp và đang hoàn tất kết luận thanh tra 01 chi nhánh hoạt động trái phép trong khu công nghiệp Hàm Kiệm.

4. Đăng ký đầu tư

Trong Quý I/2018, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có 36 dự án được cấp Quyết định chủ trương đầu tư/Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (cấp mới 20 và cấp điều chỉnh 16) với tổng diện tích đất 1.253 ha, tổng vốn đăng ký 5.503 tỷ đồng; trong đó: Cấp mới cho 19 dự án (lĩnh vực công nghiệp 08, nông lâm nghiệp: 02, khu dân cư: 01, dịch vụ: 06 và 02 dự án du lịch) với diện tích 173 ha, tổng vốn đầu tư 2.568 tỷ đồng. Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh cấp mới 01 dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Sơn Mỹ I với diện tích 1.070 ha, tổng vốn đầu tư 2.300 tỷ đồng.

So với cùng kỳ năm 2017, số dự án được cấp mới tăng 03 dự án (20/17 dự án), số dự án được cấp điều chỉnh tăng 12 dự án (16/04 dự án), tổng diện tích đất tăng 2,34 lần (1.253/535  ha), tổng vốn đăng ký tăng 7,15 lần so với cùng kỳ năm trước (5.503/769 tỷ đồng).

* Kết quả thẩm định và giải quyết hồ sơ dự án, kế hoạch đấu thầu: Đã phê duyệt chủ trương đầu tư: 11 dự  án, tổng vốn đầu tư 270.396 triệu đồng; lũy kế  từ đầu năm đạt 11 dự án, tổng vốn đầu tư 270.396 triệu đồng. Phê duyệt dự án: 04 dự án, tổng vốn đầu tư 875,3 triệu đồng; lũy kế từ đầu năm đạt 04 dự  án, tổng vốn đầu tư 875,3 triệu đồng. Phê duyệt điều chỉnh, bổ sung: 11 dự án; lũy kế từ đầu năm đạt 11 dự  án. Phê duyệt thiết kế bản vẽ  thi công - dự  toán: 05 hạng mục công trình, tổng dự toán 331.400,36 triệu đồng; lũy kế từ đầu năm có 05 hạng mục công  trình, tổng  dự  toán 331.400,36 triệu đồng. Phê duyệt kế hoạch đấu thầu xây lắp và thiết bị: 47 gói thầu, tổng giá trị  235.946,83 triệu đồng; lũy kế từ đầu năm đạt 47 gói thầu, tổng giá trị 235.946,83 triệu đồng. Phê duyệt kế  hoạch đấu thầu tư vấn: 162 gói thầu với tổng giá trị 25.796,27 triệu đồng; lũy kế  từ  đầu năm đạt 162 gói thầu với tổng giá trị 25.796,27 triệu đồng.

* Tình hình triển khai thực hiện dự án:

- Dự án khởi công xây dựng: Trong Quý I/2018 không có dự án nào khởi công.

- Dự án đi vào hoạt động kinh doanh: Trong Quý I/2018, toàn tỉnh có 02 dự án đi vào hoạt động: Dự án chợ Phước Thể tại xã Phước Thể - huyện Tuy Phong (vốn đầu tư 12 tỷ đồng) và dự án Trung tâm đào tạo và sát hạch cấp phép lái xe cơ giới đường bộ tại xã Tiến Thành - thành phố Phan Thiết (vốn đầu tư 50 tỷ đồng).

III. Thương mại, giá cả, Du lịch, Xuất nhập khẩu, Giao thông vận tải

1. Thương mại, giá cả:

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tháng 3/2018 ước đạt 4.082 tỷ đồng, tăng 12,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 2.737,3 tỷ đồng, tăng 12,57%; doanh thu dịch vụ đạt 1.344,8 tỷ đồng, tăng 12,59%. Lũy kế quý I/2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước tính đạt 12.704,5 tỷ đồng, tăng 12,72% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 8.463,6 tỷ đồng, tăng 12,88%; doanh thu dịch vụ đạt 4.240,9 tỷ đồng, tăng 12,4%.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2018 tăng 0,73% so với tháng trước, so tháng cùng kỳ năm trước tăng 3,3%, so với tháng 12 năm trước (sau hai tháng) tăng 0,89%, bình quân 2 tháng đầu năm 2018 so với 02 tháng cùng kỳ năm trước tăng 3,08%. Đây là tháng có Tết âm lịch diễn ra giữa tháng 02 nên nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng tăng cao, giá một số mặt hàng lương thực thực phẩm, đồ uống thuốc lá phục vụ cho dịp Tết cũng tăng lên. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, gồm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất với 1,45%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,68%; nhóm hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,67% (tăng mạnh chủ yếu ở các mặt hàng trang sức, dịch vụ cắt tóc, gội đầu); nhóm giao thông vận tải tăng 0,64% (tăng do nhu cầu đi lại của người dân tăng trong dịp tết); nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,56% (do trong tháng 2/2018 có 02 tuần nằm trong tháng tết, giá cả hàng hoá tăng nên kéo theo các dịch vụ may mặc, quần áo may sẵn, giầy dép cũng tăng theo).

Trong 2 tháng đầu năm 2018, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra 315 vụ, phát hiện và xử lý 216 vụ vi phạm (trong đó: vi phạm về hàng cấm 08 vụ, vi phạm hàng nhập lậu 01 vụ, vi phạm về đầu cơ, găm hàng và sai phạm trong lĩnh vực giá 08 vụ, vi phạm trong kinh doanh 27 vụ, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm 85 vụ, vi phạm khác 87 vụ, đã xử phạt và thu nộp ngân sách Nhà nước 870 triệu đồng). Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia về việc tăng cường công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ký ban hành Kế hoạch số 182/KH-UBND, ngày 15/01/2018 về cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trước, trong và sau Tết Nguyên đán, đã kiểm tra 289 vụ, phát hiện và xử lý 153 vụ vi phạm, tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính và thu nộp ngân sách Nhà nước trên 496 triệu đồng; tịch thu lô hàng phụ tùng xe máy nhập lậu và buộc tiêu hủy 145 hộp mỹ phẩm các loại chưa thực hiện công bố, 201 hộp mỹ phẩm các loại nhập lậu, lô hàng thực phẩm quá hạn sử dụng gồm 1.124 sản phẩm bánh, kẹo, sữa, mì ăn liền; kiểm tra việc vận chuyển, mua bán thuốc lá điếu nhập lậu, đã kiểm tra xử lý 15 vụ buôn bán, vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, xử phạt vi phạm hành chính 119 triệu đồng, tịch thu 1.326 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại; kiểm tra,  kiểm soát hoạt động tàng trữ, vận chuyển, mua bán khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp, đã kiểm tra 03 vụ, phát hiện xử phạt 02 vụ vi phạm với tổng số tiền xử phạt là 37 triệu đồng,…

Nhìn chung, trong quý I/2018 có nhiều ngày nghỉ Tết và các lễ hội diễn ra nên nhu cầu tiêu dùng hàng hoá của nhân dân trong tỉnh tăng khá. Thực hiện Chỉ thị số 02/CT-UBND, ngày 03/01/2018 của UBND tỉnh về việc tăng cường công tác quản lý, điều hành nhằm bình ổn giá cả thị trường; chống buôn lậu, gian lận thương mại và bảo đảm trật tự an toàn xã hội dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 và Kế hoạch số 182/KH-UBND, ngày 15/01/2018 về cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trước, trong và sau Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018 trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, do đó công tác triển khai chương trình bình ổn thị trường, dự trữ hàng hoá trong dịp Tết nên hàng hoá đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, giá cả ổn định; trong những ngày trước, trong và sau Tết, giá cả các mặt hàng thiết yếu phục vụ nhu cầu mua sắm Tết giữ ổn định, không có tình trạng tăng giá đột biến. Các mặt hàng: bia rượu, nước giải khát, lương thực, bánh ngọt, sữa, quần áo, giày, dép giữ ổn định; các mặt hàng thịt gia súc, gia cầm, hoa quả tươi các loại lượng hàng phong phú, đa dạng, giá cả giữ ổn định. Các mạng lưới phân phối hàng hoá đến các vùng sâu, vùng xa, miền núi, mở các đợt, chương trình khuyến mãi... để hỗ trợ người dân mua sắm. Công tác quản lý, kiểm soát thị trường được quan tâm thực hiện; đã kịp thời xử lý các vụ vi phạm, góp phần ổn định thị trường, hàng hoá đảm bảo chất lượng.

2. Du lịch:

Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch được thực hiện khá tốt. Đã triển khai kế hoạch thông tin xúc tiến du lịch năm 2018. Công tác phục vụ du lịch dịp Tết được chú trọng triển khai sớm, trong đó chú trọng tăng cường công tác kiểm tra trước Tết nhằm đảm bảo môi trường du lịch, đảm bảo chất lượng dịch vụ phục vụ du khách trong dịp Tết nhất là nhà hàng, nhà nghỉ có đón khách du lịch. Vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn du khách trong dịp Tết ở tất cả các khu du lịch, các điểm tham quan du lịch trên địa bàn toàn tỉnh được đảm bảo; giá cả dịch vụ lưu trú, hàng hoá có tăng nhưng không đáng kể… chưa có phản ảnh nào của du khách qua đường dây nóng về giá cả dịch vụ, hàng hoá và chất lượng phục vụ. Các công ty du lịch lữ hành đã chuẩn bị đầy đủ các tour du lịch và phối hợp với các công ty lữ hành các tỉnh, vùng lân cận thiết kế những tour riêng chuyên về du lịch biển, du lịch sinh thái. Các tour lữ hành, điểm tham quan thực hiện nhiều gói giảm giá sản phẩm, dịch vụ, vé tour tuyến du lịch và vé tham quan. Cùng với việc ổn định giá cả, đầu tư nâng cao chất lượng dịch vụ của các doanh nghiệp, các điểm du lịch ở Phan Thiết - Bình Thuận còn tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch độc đáo trên bãi biển…

Dự ước trong tháng 3/2018 tổng số lượt khách phục vụ đạt 431,7 ngàn lượt khách giảm 5,26% so tháng trước và tăng 12,6% so với tháng cùng kỳ năm trước, ngày khách phục vụ đạt 705,6 ngàn ngày khách giảm 5,19% so với tháng trước và tăng 14,76% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước quý I/2018 đạt 1.339 ngàn lượt khách, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước, ngày khách ước đạt 2.193,9 ngàn ngày khách, tăng 13,32% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng 3/2018 ước đạt 1.043,6 tỷ đồng giảm 3,16% so với tháng trước, và tăng 18,05% so với cùng kỳ năm trước. Dự ước quý I/2018 ước đạt 3.177,1 tỷ đồng tăng 18,84% so với cùng kỳ năm trước.

* Tình hình khách quốc tế: Số lượng khách quốc tế đến Bình Thuận có trên 120 nước, qua 02 tháng đầu năm 2018 có 10 nước chiếm tỷ lệ khá trong tổng số lượt khách quốc tế, đứng đầu là khách Nga 27,14%, Trung Quốc chiếm tỷ lệ 26,71%, Hàn Quốc 12,18%, CH Liên bang Đức 4,46%, Thái Lan 3,21%, Pháp 2,52%, Anh 2,14, Mỹ 1,77, Ba Lan 1,59%, Hà Lan 1,46%. Bên cạnh đó lượng khách Đông Âu trong những tháng gần đây cũng tăng so với cùng kỳ năm trước. Số lượt khách quốc tế quý I/2018 ước đạt 174.199 lượt khách (tăng 14,56% so với cùng kỳ). Số ngày khách quốc tế lưu trú ước đạt 539.317 ngày khách (tăng 15,23% so với cùng kỳ).

          Nhìn chung, hoạt động du lịch quý I/2018 đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của du khách trong và ngoài nước. Nhiều hoạt động vui chơi, giải trí, tham quan được triển khai tổ chức. Hoạt động du lịch diễn ra khá sôi nỗi nhất là trong dịp tết Nguyên đán 2018, lượng khách đến tỉnh tăng so với năm trước. Tình hình vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh trật tự ở các khu, tuyến, điểm du lịch trọng điểm của tỉnh được bảo đảm; công tác cứu nạn, cứu hộ trên các bãi tắm dọc theo tuyến biển, các hồ bơi ở các Resort được quan tâm chú ý bảo đảm an toàn cho du khách. Chất lượng phục vụ du khách được các đơn vị kinh doanh du lịch quan tâm, chú trọng hơn trước và ngày càng chuyên nghiệp hơn. Hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được chú trọng. Nội dung, hình thức quảng bá, xúc tiến ngày càng có chiều sâu. Các hoạt động văn hoá, thể thao, các lễ hội truyền thống được tổ chức thường xuyên và ngày càng gắn với yêu cầu phục vụ du lịch, từng bước tạo được sự phong phú, hấp dẫn cho sản phẩm du lịch của tỉnh, thu hút được sự chú ý của các đơn vị kinh doanh lữ hành, du khách ở trong và ngoài nước.

 

Dự báo quý II, đặc biệt là trong tháng 4, với nhiều sự kiện văn hoá, du lịch được tổ chức đón chào hè 2018 trên toàn quốc, đặc biệt là kỳ nghỉ lễ dài ngày 30/4 và 1/5, chắc chắn sẽ thu hút một lượng du khách lớn đến với Bình Thuận. Để Bình Thuận thực sự trở thành điểm đến hấp dẫn, an toàn và thân thiện, ngành du lịch của Tỉnh cần phải cải thiện môi trường kinh doanh du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ, trong đó kiên quyết xử lý tình trạng kinh doanh chộp giật, chèo kéo, đeo bám, lừa đảo du khách tại các khu du lịch...

3. Xuất, nhập khẩu:

- Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá quý I/2018 ước đạt 85,08 triệu USD tăng 9,55% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: nhóm hàng thủy sản ước đạt 29,70 triệu USD tăng 17,34%; nhóm hàng nông sản ước đạt 3,19 triệu USD giảm 39,50%; nhóm hàng hoá khác ước đạt 52,19 triệu USD tăng 10,85%).

* Xuất khẩu trực tiếp quý I/2018 đạt 81,29 triệu USD (tăng 9,19% so với cùng kỳ năm trước), trong đó:

+ Xuất sang thị trường Châu Á đạt gần 49,30 triệu USD (tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước); trong đó: Thị trường Đông Á đạt 45,63 triệu USD (tăng 3,05%), thị trường Đông Nam Á đạt 0,95 triệu USD (giảm 59,11%), thị trường Tây Á đạt 1,51 triệu USD (tăng 5,49%), thị trường Trung Nam Á đạt 1,21 (tăng gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước). Tăng chủ yếu ở mặt hàng cá loại khác tươi đông lạnh, bạch tuộc đông lạnh, sản phẩm may mặc, tôm thẻ…

+ Xuất sang thị trường Châu Âu đạt 14,09 triệu USD (tăng 30,61% so với cùng kỳ năm trước); trong đó: Thị trường Bắc Âu đạt 1,97 triệu USD (giảm 3,08%), thị trường Đông Âu đạt 0,19 triệu USD (giảm 32,17%), thị trường Nam Âu đạt 2,54 triệu USD (giảm 42,78%), thị trường Tây Âu đạt 9,38 triệu USD (tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ). Tăng chủ yếu ở mặt hàng tôm thẻ, tôm tươi đông lạnh, giầy dép…

+ Xuất sang thị trường Châu Mỹ đạt 15,76 triệu USD (tăng 13,18% so với cùng kỳ năm trước); trong đó: Thị trường Bắc Mỹ đạt 11,65 triệu USD (tăng 1,86%), thị trường Trung Mỹ đạt 3,81 triệu USD (tăng 55,60%), thị trường Nam Mỹ đạt gần 0,30 triệu USD (tăng gấp 8 lần so với cùng kỳ). Tăng chủ yếu là mặt hàng đế giầy và nguyên phụ liệu giầy dép…

* Ủy thác xuất khẩu quý I/2018 ước đạt 3,78 triệu USD, tăng 17,82% so với cùng kỳ. Chủ yếu tăng ở nhóm hàng may mặc.

- Xuất khẩu dịch vụ du lịch quý I/2018 ước đạt 60,87 triệu USD (tăng 16,89% so với cùng kỳ năm trước).

- Nhập khẩu quý I/2018 ước đạt 67,99 triệu USD giảm 79,02% so với cùng kỳ. Chủ yếu giảm mạnh ở mặt hàng máy móc, thiết bị phụ tùng khác. Nhóm các mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất vẫn là mặt hàng rau quả (tăng 123,07%), mặt hàng gỗ và các sản phẩm từ gỗ (tăng 29,96%), mặt hàng phụ liệu vải may mặc (tăng 21,75%), nhóm phương tiện vận tải và phụ tùng (tăng 50,37%) và nhóm sản phẩm từ sắt thép (tăng 16,4 lần).

           Nhìn chung, xuất khẩu hàng hoá quý I/2018 của tỉnh có nhiều tín hiệu khởi sắc, hứa hẹn nhiều thuận lợi cho cả năm 2018. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ yếu của tỉnh tăng so với cùng kỳ năm trước. Xét về mặt sản lượng tuy nhóm mặt hàng thuỷ sản giảm 3,61% so cùng kỳ nhưng giá trị xuất khẩu tăng 17,34%; ở nhóm mặt hàng nông sản nhìn chung giảm so với cùng kỳ, mặt hàng cao su ảnh hưởng trực tiếp đến kim ngạch nhóm hàng nông sản do thị trường tiêu thụ của khách hàng đầu năm chưa nhiều, riêng về mặt hàng trái thanh long mặc dù sản lượng giảm 13,33% nhưng giá trị xuất khẩu lại tăng 35,01%; nhóm hàng hoá khác tăng 10,85%, một số mặt hàng tăng mạnh như giày dép và nguyên phụ liệu dệt may da giày.

4. Giao thông vận tải:

Vận tải hàng hoá: Ước tháng 3/2018 vận chuyển hàng hóa đạt 767,7 nghìn tấn và luân chuyển hàng hóa đạt 41,7 triệu tấn.km. Lũy kế quý I/2018, vận chuyển hàng hóa đạt 2.307,4 nghìn tấn (đạt 24,9% kế hoạch năm, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước), luân chuyển hàng hóa đạt 125,8 triệu tấn.km (đạt 24,9% kế hoạch năm, tăng 9,4% so với cùng kỳ). Xét theo lĩnh vực, trong tháng 3/2018 vận chuyển hàng hóa đường bộ đạt 766,8 nghìn tấn (lũy kế quý I/2018 đạt 2.304,7 nghìn tấn, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước), vận chuyển hàng hóa đường thủy đạt 0,9 nghìn tấn (lũy kế quý I/2018 đạt 2,7 nghìn tấn, tăng 8,3% so với cùng kỳ), luân chuyển hàng hóa đường bộ đạt 41,6 triệu tấn.km (lũy kế quý I/2018 đạt 125,5 triệu tấn.km, tăng 9,4% so với cùng kỳ), luân chuyển hàng hóa đường thủy đạt 0,095 triệu tấn.km (lũy kế quý I/2018 đạt 0,284 triệu tấn.km, tăng 8,0% so với cùng kỳ năm trước).

         Vận tải hành khách: Ước tháng 3/2018 đã vận chuyển 1.935,6 nghìn hành khách và luân chuyển 97,2 triệu hk.km. Lũy kế quý I/2018, đã vận chuyển 5.965,2 nghìn nh khách (đạt 24,8% kế hoạch năm, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước) và luân chuyển 298 triệu hk.km (đạt 24,7% kế hoạch năm, tăng 13% so với cùng kỳ). Xét theo lĩnh vực, trong tháng 3/2018 vận chuyển hành khách đường bộ đạt 1.932,3 nghìn hành khách (lũy kế quý I/2018 đạt 5.954,9 nghìn hành khách, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước), vận chuyển hành khách đường thủy đạt 3,3 nghìn hành khách (lũy kế quý I/2018 đạt 10,3 nghìn hành khách, tăng 9,1% so với cùng kỳ), luân chuyển hành khách đường bộ đạt 96,8 triệu hk.km (lũy kế quý I/2018 đạt 296,9 triệu hk.km, tăng 13% so với cùng kỳ), luân chuyển hành khách đường thủy đạt 0,348 triệu hk.km (lũy kế quý I/2018 đạt 1,075 triệu hk.km, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước).

 

Nhìn chung trong quý I/2018 công tác bảo đảm giao thông, lưu thông đi lại được thực hiện tốt, không có tuyến đường nào ách tắc. Vận tải đường bộ, đường biển ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại của nhân dân. Công tác tuần tra, kiểm soát được duy trì thường xuyên, đã kịp thời xử lý ngăn chặn xe quá tải, quá khổ lưu thông trên các tuyến đường, giải tỏa các tụ điểm lấn chiếm lòng lề đường nhằm đảm bảo tối đa an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh.

IV. Thu, chi ngân sách; Hoạt động tín dụng

1. Thu ngân sách:

Ước tháng 3/2018, thu ngân sách đạt 600 tỷ đồng. Luỹ kế quý I/2018 đạt 2.351,1 tỷ đồng (đạt 27,6% dự toán năm), giảm 16,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa (trừ dầu) đạt 1.596 tỷ đồng (đạt 26,5% dự toán năm), giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Riêng thu thuế, phí đạt 1.463 tỷ đồng, đạt 27,5% dự toán năm (tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước); thu tiền sử dụng đất 133 tỷ đồng, đạt 19% dự toán năm (giảm 79,5%); thu thuế xuất nhập khẩu 286 tỷ đồng, đạt 28,6% dự toán năm (giảm 44,5%) và thu dầu thô 470 tỷ đồng, đạt 31,7% dự toán năm (tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước).

Dự ước các khoản thu tăng (giảm) của quý I/2018 so với cùng kỳ năm trước như sau: Thu từ doanh nghiệp nhà nước 297 tỷ đồng (tăng 66,2% so với cùng kỳ năm trước), thu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 197 tỷ đồng (tăng 7,7%), thu ngoài quốc doanh 246 tỷ đồng (tăng 22,1%), thuế thu nhập cá nhân 106 tỷ đồng (tăng 16,5%), thuế bảo vệ môi trường 98 tỷ đồng (giảm 18%), lệ phí trước bạ 54 tỷ đồng (tăng 48%), thu từ các loại phí, lệ phí 35 tỷ đồng (tăng 0,3%), thu xổ số kiến thiết 302 tỷ đồng (tăng 2,6%); thu tiền sử dụng đất 133 tỷ đồng (giảm 79,5%), thu từ dầu thô 470 tỷ đồng (tăng 4,9%), thuế xuất nhập khẩu đạt 286 tỷ đồng (giảm 44,5%).

 

Như vậy, thu ngân sách quý I/2018 đạt trên mức bình quân chung (26,5%); trong đó, hai nguồn thu có tỷ trọng khá lớn là thu xổ số kiến thiết (dự toán 720) và thu dầu thô (dự toán 1.480 tỷ) đạt mức khá cao so với dự toán (thu xổ số đạt 301,7/720 tỷ; thu dầu thô đạt 469,5/1.480 tỷ) nên đã tác động tích cực đến tốc độ tăng thu ngân sách trên địa bàn. Tuy vậy, một số khoản thu mang tính ổn định tại địa phương chỉ đạt dưới mức bình quân chung (26,5%) là: Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp (đạt 21,6% dự toán năm); thuế bảo vệ môi trường (đạt 16,6%); thu lệ phí trước bạ (đạt 24,6%), thu cấp quyền khai thác khoáng sản (đạt 9,6%); thu tiền sử dụng đất (đạt 18,9% dự toán năm),... Nếu so sánh với quý I/2017 thì thu ngân sách quý I/2018 giảm đến 16,8% do một số khoản thu giảm mạnh (Thuế bảo vệ môi trường giảm 17,9%; thu tiền sử dụng đất giảm 79,4%; thuế xuất nhập khẩu giảm 44,5%).

          Riêng khối huyện, thị xã, thành phố; kết quả thu quý I/2018 ước đạt 534,9 tỷ đồng (đạt 29% dự toán năm), tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Phan Thiết thu 229,4 tỷ đồng (đạt 27,6% dự toán năm, tăng 0,1% so cùng kỳ); La Gi: 36,7 tỷ đồng (đạt 29,8% dự toán, tăng 35%); Tuy Phong: 45,5 tỷ đồng (đạt 24,1% dự toán, tăng 36,7%); Bắc Bình: 24,5 tỷ đồng (đạt 31% dự toán, giảm 1,6%); Hàm Thuận Bắc: 76,5 tỷ đồng (đạt 37% dự toán, tăng 60,2%);  Hàm Thuận Nam: 41,3 tỷ đồng (đạt 28,5% dự toán, tăng 43,7%); Tánh Linh: 24,3 tỷ đồng (đạt 29,2% dự toán, tăng 15,2%); Đức Linh: 31,1 tỷ đồng (đạt 34,6% dự toán, giảm 7,2%); Hàm Tân: 18,7 tỷ đồng (đạt 24,6%, tăng 13,4%) và Phú Quý thu 7 tỷ đồng (đạt 35% dự toán, tăng 35,1%).

2. Chi ngân sách:

Ước chi ngân sách địa phương tháng 3 đạt 610 tỷ đồng. Lũy kế quý I/2018 1.948,4 tỷ (đạt 21,7% dự toán năm), tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2017; trong đó: Chi đầu tư phát triển 520,5 tỷ đồng (đạt 26,7% dự toán năm), giảm 2,7%; chi thường xuyên 1.247,9 tỷ đồng (đạt 22,1% dự toán năm), tăng 5,3% so với cùng kỳ năm 2017. Trong chi ngân sách, đã bám sát theo Nghị quyết HĐND tỉnh, Quyết định giao dự toán của Chủ tịch UBND tỉnh. Triệt để tiết kiệm các khoản chi thường xuyên, nhất là kinh phí tổ chức hội nghị, hội thảo, công tác nước ngoài, kinh phí mua sắm ô tô và trang thiết bị đắt tiền. Đồng thời, tăng cường công tác theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra, giám sát việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong quản lý ngân sách nhà nước.

3. Hoạt động tín dụng:

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung thực hiện các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn, mở rộng tín dụng an toàn và có hiệu quả, tập trung vào các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu… và các chương trình, chính sách tín dụng của địa phương; đồng thời tiếp tục hướng dẫn khách hàng thực hiện hồ sơ vay và đẩy mạnh công tác thẩm định cho vay phát triển thuỷ sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP về một số chính sách phát triển thủy sản; tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, cơ cấu lại và giải quyết nợ xấu; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, đối thoại doanh nghiệp; triển khai thực hiện tốt việc quản lý ngoại hối, quản lý hoạt động kinh doanh vàng trên địa bàn tỉnh.

Tình hình thực hiện lãi suất: Mặt bằng lãi suất tương đối ổn định so với đầu năm. Hiện nay, lãi suất huy động đối với tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng là 4,3-5,5%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng là 5,3-7,1%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên là 6-7,3%/năm. Lãi suất cho vay các khoản vay mới ở các lĩnh vực ưu tiên ngắn hạn 6-6,5%/năm, các lĩnh vực khác từ 9-10%/năm; lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến từ 10,5-11,5%/năm.

Hoạt động huy động vốn: Tiếp tục được tăng cường để tạo nguồn cho vay phục vụ phát triển kinh tế xã hội địa phương. Đến 31/01/2018, nguồn vốn huy động đạt 30.812 tỷ đồng, tăng 0,14% so với đầu năm và tăng 20,83% so với cùng kỳ năm trước. Ước đến 31/3/2018: Vốn huy động đạt 31.229 tỷ đồng, tăng 1,5% so với đầu năm 2018.

Hoạt động tín dụng: Thực hiện theo chủ trương mở rộng cho vay đi đôi với an toàn và hiệu quả, gắn với thực hiện các chính sách của trung ương và địa phương. Đến 31/01/2018, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn đạt 39.142 tỷ đồng, tăng 1,06 % so với đầu năm và tăng 19,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dư nợ cho vay bằng VNĐ đạt 37.994 tỷ đồng (chiếm 97% tổng dư nợ); dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 20.997 tỷ đồng (chiếm 53,6% tổng dư nợ). Ước đến 31/3/2018, dư nợ đạt 39.777 tỷ đồng, tăng 2,7% so với đầu năm.

Chất lượng tín dụng: Các tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các giải pháp để ngăn chặn và xử lý nợ xấu, trong đó thực hiện đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý, thu nợ. Đến 31/01/2018, nợ xấu trên địa bàn là 355 tỷ đồng, chiếm 0,91% tổng dư nợ, tăng 0,07% so với đầu năm.

* Tình hình dư nợ các chương trình tín dụng (đến 31/01/2018):

- Vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên, trong đó dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt 22.313 tỷ đồng (chiếm 57% tổng dư nợ); dư nợ cho vay xuất khẩu đạt 830 tỷ đồng (chiếm 2,12% tổng dư nợ); dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt 6.790 tỷ đồng (chiếm 17,35% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay các đối tượng chính sách xã hội đạt 2.267 tỷ đồng/125.797 khách hàng.

- Chính sách tín dụng đối với thủy sản theo Nghị định 67: Tỉnh đã nhận 131 hồ sơ của khách hàng có nhu cầu vay đóng tàu theo Nghị định 67; trong đó đã ký hợp đồng tín dụng với 121 hồ sơ, đang xử lý 06 hồ sơ, từ chối cho vay 04 hồ sơ. Tổng số tiền cam kết cho vay theo hợp đồng tín dụng là 1.100 tỷ đồng, đã giải ngân được 1.064,4 tỷ đồng, dư nợ là 1.028 tỷ đồng (cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là 302,2 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ là 712,3 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu 13,5 tỷ đồng); cho vay vốn lưu động 115 triệu đồng.

- Cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Quyết định 813/QĐ-NHNN: Dư nợ cho đạt 400 tỷ đồng phục vụ sản xuất tôm giống, nuôi tôm thịt, mua bò và chăm sóc bò giống, trồng thanh long.

- Cho vay hỗ trợ nhà ở: Dư nợ cho vay hỗ trợ nhà ở là 40,5 tỷ đồng/112 khách hàng; trong đó dư nợ cho vay mua nhà ở xã hội là 2,5 tỷ đồng/14 khách hàng, dư nợ cho vay để xây dựng mới, cải tạo và sửa chữa nhà ở là 38 tỷ đồng/98 khách hàng.

- Cho vay thu mua lúa gạo xuất khẩu và tiêu dùng trong nước đạt 147,5 tỷ đồng; cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 đạt 69,4 tỷ đồng.

- Cho vay hỗ trợ đổi mới công nghệ, thiết bị đối với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm lợi thế của tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2016-2020 theo QĐ số 16/2017/QĐ-UBND ngày 16/5/2017: Dư nợ cho vay đạt 32 tỷ đồng/51 khách hàng (lãi suất cho vay từ 7-8,5%/năm).

- Hỗ trợ giải quyết khó khăn cho người dân trên địa bàn: Đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho khách hàng gặp khó khăn do hạn hán, lũy kể từ khi thực hiện đến cuối tháng 01/2018 dư nợ 35,97 tỷ đồng/107 khách hàng (01 doanh nhiệp và 106 hộ dân), đến 31/01/2018 dư nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 2,77 tỷ/23 khách hàng; cơ cấu lại nợ cho khách hàng gặp khó khăn trong  nuôi lợn với dư nợ đạt 2,5 tỷ đồng; chưa có trường hợp khách hàng nào đề nghị khoanh nợ, xoá nợ.

Đã thực hiện tốt công tác điều hòa tiền mặt, đảm bảo hệ thống thanh điện tử liên ngân hàng. Tiếp tục tăng cường đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, chuyển lương qua tài khoản, thanh toán qua POS. Mạng lưới ATM, POS tiếp tục được duy trì, hoạt động thông suốt và an toàn.  Đến 31/01/2018, trên địa bàn có 153 máy ATM (giảm 02 so với đầu năm) và 1.350 máy POS (tăng 29 máy so với đầu năm). Hầu hết máy POS được kết nối liên thông giữa các ngân hàng với nhau, góp phần thúc đẩy phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.

Nhìn chung hoạt động tín dụng trên địa bàn tiếp tục ổn định. Tỉnh đã triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách và các văn bản chỉ đạo của Trung ương và địa phương liên quan đến hoạt động ngân hàng như: Chỉ thị 01/CT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tổ chức thực hiện nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2018; quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (Thông tư 26/2017/TT-NHNN); quy định cho vay bằng ngoại tệ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng vay là người cư trú (Thông tư 18/2017/TT-NHNN),... triển khai đến các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện cân đối nguồn vốn đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp tham gia chương trình bình ổn giá theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh tại Kế hoạch 5013/KH-UBND ngày 12/12/2017; chỉ đạo các tổ chức tín dụng đảm bảo chất lượng, an toàn hoạt động ATM dịp Tết và thực hiện chính sách phát triển thủy sản theo Nghị định 17/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2014/NĐ-CP.

V. Các vấn đề xã hội

1. Văn hoá, Thể thao:

- Các hoạt động văn hoá, tuyên truyền cổ động trực quan:

Quý I/2018, các địa phương trong toàn tỉnh tổ chức nhiều hoạt động thông tin tuyên truyền, cổ động trực quan kỷ niệm các ngày lễ, tết, nhất là phục vụ mừng Đảng, mừng xuân Mậu Tuất 2018, ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam 3/2, ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3,… với 8.975 giờ phát thanh xe loa, phóng thanh, cắt dán 8.123 băng rôn khẩu hiệu, kẻ vẽ 7.455 m2 panô, 7.197 panô dọc, treo 7.372 lượt cờ các loại. Thực hiện 26/90 buổi (đạt 28,9% kế hoạch) văn nghệ tuyên truyền phòng, chống tệ nạn xã hội, với kịch bản “Cờ bạc là bác thằng bần” và chương trình ca múa nhạc mừng Đảng, mừng Xuân tại các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh, thu hút 15.000 lượt người xem.

- Hoạt động văn hoá nghệ thuật:

+ Các hoạt động văn hoá, văn nghệ quần chúng mừng Đảng, mừng xuân và các hoạt động diểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp được tổ chức thành công tốt đẹp.

+ Thư viện tỉnh tổ chức tốt Hội báo Xuân Mậu Tuất 2018, với 144 loại sách, báo, tạp chí. Tuyên truyền, giới thiệu sách mới, sách chuyên đề kỷ niệm 88 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2018) 150 tài liệu. Sưu tầm 63 tin, bài tư liệu biên soạn Thông tin chuyên đề Mừng Đảng, Mừng Xuân Mậu Tuất 2018. Cấp mới 11 thẻ bạn đọc (thiếu nhi 03 thẻ), phục vụ 7.673 lượt bạn đọc (thiếu nhi 1.620 lượt), luân chuyển 29.681 lượt tài liệu (thiếu nhi 13.181 lượt). Bổ sung 57 bản sách. Luân chuyển 2.600 bản sách phục vụ cơ sở.

- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng

+ Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Đón và phục vụ 302 đoàn, với 17.420 lượt người, trong đó có 107 lượt khách nước ngoài. Phục vụ 09 lễ viếng.

+ Bảo tàng tỉnh: Đón 1.097 lượt khách tham quan Bảo tàng. Sưu tầm, trao đổi, tiếp nhận 28/100 hiện vật.

+ Ban Quản lý di tích tháp Pô Sah Inư: Đón 37.000 lượt khách, trong đó có 11.910 lượt khách nước ngoài. Tổ chức 55 suất diễn ca, múa, hoà tấu nhạc cụ do nghệ nhân người Chăm biểu diễn phục vụ du khách trong dịp tết Dương lịch và dịp tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018.

+ Trung tâm Trưng bày Văn hoá Chăm: Đón 6.292 lượt khách tham quan, trong đó có 198 lượt khách nước ngoài. Trao đổi, tiếp nhận 41 hiện vật.

+ Trung tâm Phát hành phim và Chiếu bóng: Các Đội chiếu bóng lưu động và các rạp chiếu phim thực hiện 264 buổi chiếu phục vụ chính trị, thu hút 84.500 lượt người xem.

- Hoạt động thể thao:

+ Thể thao quần chúng: tổ chức các giải thể thao phục vụ các sự kiện chính trị, các ngày lễ, tết, nhất là các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân 2018, tiêu biểu: Giải leo núi Tà Cú Hàm Thuận Nam – Bình Thuận (mở rộng) lần thứ XXII/2018; Hội Đua thuyền và đua thúng trên sông Cà Ty; Vượt đồi cát – Mũi Né; giải Windsurf mở rộng (Lướt ván buồm) lần thứ 19 năm 2018; giải Việt dã Đại hội Thể dục thể thao tỉnh BìnhThuận lần thứ VIII năm 2018, gắn với hoạt động ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2018 và hoạt động kỷ niệm 72 năm ngày Thể thao Việt Nam 27/3.

+ Hoạt động thể thao thành tích cao: Quý I/2018, đạt được 06 huy chương, trong đó 03 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ.

Nhìn chung, các hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục - thể thao trong quý I/2018 phục vụ nhân dân đón Tết Mậu Tuất 2018 được tổ chức rộng khắp trên toàn tỉnh, gắn với các hoạt động chào mừng 88 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Hoạt động văn hoá, văn nghệ tiếp tục hướng về cơ sở phục vụ đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, vùng bãi ngang đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá tinh thần của nhân dân; Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được duy trì và phát triển, thu hút nhiều người tham gia tập luyện. Duy trì tổ chức tốt các giải thể thao truyền thống. Tổ chức tốt công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chất lượng dịch vụ, an ninh, an toàn; không để xảy ra tình trạng tăng giá đột biến, “chặt chém” khách trong dịp Tết Mậu Tuất 2018.

2. Giáo dục:

Qua kết quả Học kỳ I, năm học 2017 - 2018 cho thấy: Chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn (học sinh giỏi cấp tỉnh và quốc gia) đều chuyển biến tiến bộ so với cùng kỳ của năm học trước, cụ thể:

2.1. Về chất lượng đại trà

a) Tiểu học

* Phẩm chất:

- Chăm học, chăm làm: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 46,75%; “Đạt” 51,92%; “Cần cố gắng” 1,33%.

- Tự tin, trách nhiệm: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 46,40%; “Đạt” 53,03%; “Chưa hoàn thành” 0,56%.

- Trung thực, kỷ luật: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 53,70%; “Đạt” 46,04%; “Chưa hoàn thành” 0,26%.

- Đoàn kết, yêu thương: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 58,96%; “Đạt” 40,87%; “Chưa hoàn thành” 0,17%.

* Năng lực:

- Tự phục vụ: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 49,55%; “Đạt” 49,62%; “Chưa hoàn thành” 0,83%.

- Hợp tác: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 48,55%; “Đạt” 50,45%; “Chưa hoàn thành” 1,00%.

- Tự giải quyết vấn đề: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Tốt” 43,97%; “Đạt” 53,98%; “Chưa hoàn thành” 2,04%.

* Xếp loại học tập:

- Môn Toán: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Hoàn thành tốt” 54,15%; “Hoàn thành” 41,49%; “Chưa hoàn thành” 4,36%.

- Môn tiếng Việt: Tỷ lệ học sinh được đánh giá “Hoàn thành tốt” 58,51%; “Hoàn thành” 37,09%; “Chưa hoàn thành” 4,40%.

b) Trung học cơ sở

- Xếp loại hạnh kiểm: Tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm Tốt 55,54%, tăng 1,43% so với cùng kỳ năm học trước; Khá 35,10%, tăng 0,13% so với cùng kỳ; Trung bình 8,76%, giảm 1,27% so với cùng kỳ; Yếu 0,60%, giảm 0,29% so với cùng kỳ.

- Xếp loại học lực: Tỷ lệ học sinh xếp loại học lực loại Giỏi 19,65%, tăng 1,35% so với cùng kỳ năm học trước; Khá 31,37%, tăng 0,75% so với cùng kỳ; Trung bình 32,75%, giảm 0,97% so với cùng kỳ; Yếu 14,76%, giảm 1,25% so với cùng kỳ. Kém 1,47%, tăng 0,12% so với cùng kỳ.

c) Trung học phổ thông

- Xếp loại hạnh kiểm: Tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm Tốt 53,28%, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm học trước; Khá 35,95%, tăng 1,28% so với cùng kỳ; Trung bình 9,01%, giảm 0,97% so với cùng kỳ; Yếu 1,76%, giảm 0,63% so với cùng kỳ.

- Xếp loại học lực: Tỷ lệ học sinh xếp loại học lực loại Giỏi 7,43%, giảm 0,32% so với cùng kỳ năm học trước; Khá 34,88%, tăng 0,09% so với cùng kỳ; Trung bình 44,68%, tăng 0,88% so với cùng kỳ; Yếu 12,39%, giảm 0,27% so với cùng kỳ. Kém 0,61%, giảm 0,39% so với cùng kỳ.

2.2. Kết quả các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia

- Kết quả kỳ thi học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2017-2018: Tổng số học sinh đạt giải 323 học sinh, trong đó: Giải nhất 13; Giải nhì 51; Giải ba 259. So với năm học trước tăng 73 giải (giải nhì tăng 16; giải ba tăng 57).

- Kết quả kỳ thi học sinh giỏi quốc gia: Có 11 học sinh đạt giải, trong đó: Giải nhì 01; Giải ba 03; Giải giải khuyến khích 07. So với năm học 2016-2017, tăng 01 giải nhì, 01 giải ba.

2.3. Củng cố, duy trì nâng cao chất lượng công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ:

- Duy trì kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở và xóa mù chữ:

+ Về phổ cập giáo dục tiểu học: 100% số xã, phường, thị trấn; huyện, thị xã, thành phố đảm bảo duy trì chuẩn quốc gia.

+ Về phổ cập giáo dục trung học cơ sở: tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí về phổ cập giáo dục trung học cơ sở tại 127/127 xã và 10/10 huyện đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn quốc gia.

+ Về công tác xóa mù chữ: 28 xã đạt mức độ 1; 99 xã, phường, thị trấn đạt mức độ 2; 06 huyện đạt mức độ 2; 04 huyện đạt mức độ 1 (huyện Tuy Phong, Bắc Bình, Hàm Thuận Bắc và Tánh Linh); Tỉnh đạt mức độ 1.

- Về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi: Tính đến ngày 24/01/2018, toàn tỉnh có 127/127 xã, phường, thị trấn và 10/10 huyện, thị xã, thành phố duy trì chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi (đạt tỷ lệ 100%).

3. Y tế:

Toàn tỉnh hiện có 12 phòng khám đa khoa khu vực và 115/115 Trạm Y tế xã, phường có bác sỹ công tác, chiếm tỷ lệ 100%. Số bác sỹ/vạn dân là 7,0. Đến nay, tổng số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế là 119/127, đạt tỷ lệ 93,7%.

Các bệnh dịch truyền nhiễm được giám sát chặt chẽ, nhất là dịch bệnh cúm A H5N1, H7N9, sốt xuất huyết, tay chân miệng, bệnh Zika… Các đơn vị y tế dự phòng tỉnh, huyện đã chủ động tích cực triển khai kế hoạch phòng, chống dịch bệnh, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh.

Tính đến ngày 09/3/2018, trên địa bàn tỉnh dịch cúm A H5N1, H7N9, bệnh Zika chưa có ca mắc bệnh nào; đến thời điểm 28/2/2018, tổng số mắc sốt xuất huyết là 182 ca (cùng kỳ 293), giảm 37,8% so với cùng kỳ. Số ca mắc tay chân miệng là 99 ca (cùng kỳ 90), tăng 10% so với cùng kỳ, không có tử vong. Ngành y tế của tỉnh thường xuyên theo dõi tình hình dịch bệnh, triển khai nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch bệnh, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong công tác phòng chống dịch bệnh.

Số cas mắc sốt rét ước quý I/2018 là 25 cas, tăng 92% so với cùng kỳ, không có tử vong.

Phòng chống HIV/AIDS, đến thời điểm 28/2/2018, số bệnh nhân HIV mới phát hiện 10 cas, lũy kế 1.339; chuyển AIDS 05, lũy kế 962; tử vong 0, lũy kế 505.

Phòng chống phong, tổng số lượt người được khám phát hiện bệnh phong ước thực hiện quý I/2018 là 23.000 lượt. Số bệnh nhân phong được phát hiện mới 01 cas (cùng kỳ 0); Số bệnh nhân đang quản lý 462.

Phòng chống Lao, ước thực hiện trong quý I/2018, tổng số bệnh nhân được thu dung điều trị 420 cas, tăng 2,9% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân lao AFB (+) phát hiện mới 220 cas, tăng 0,9% so với cùng kỳ.

Công tác khám chữa bệnh quý I/2018, tổng số lượt bệnh nhân đến khám ước trong quý I/2018 là 601.000, tăng 0,05% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh điều trị nội trú 41.650, tăng 1% so với cùng kỳ. Công suất sử dụng giường bệnh tại các tuyến đạt kế hoạch đề ra.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh trong quý I/2018 được ngành y tế kiểm soát tốt, công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân được ngành y tế quan tâm thực hiện. An toàn vệ sinh thực phẩm được đảm bảo, không có vụ ngộ độc nào xảy ra nhất là trong dịp Tết Nguyên đán vừa qua. Công tác khám chữa bệnh tiếp tục đáp ứng được nhu cầu phục vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, thực hiện tốt công tác thường trực, cấp cứu, điều trị bệnh nhân.

4. Lao động, xã hội, chính sách:

Trong quý I/2018: Toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.680 lao động, đạt 23,67% kế hoạch năm (5.680/24.000) và bằng 93,88% so với cùng kỳ năm 2017 (5.680/6.050), trong đó cho vay vốn giải quyết việc làm 160 lao động, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp 1.050 lao động; đưa 30 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài (bao gồm các thị trường 08 Đài Loan, 21 Nhật Bản, 01 Ả Rập Xê Út); thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 4.440 lao động. Có 657.140 người trong độ tuổi lao động đang hoạt động kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 2,41%, giảm 0,07% so với năm 2017.

- Tính đến ngày 09/3/2018 đã tuyển mới đào tạo nghề cho 420/10.000 người, chiếm tỷ lệ 4,2% so với kế hoạch năm và bằng 134,6% so với cùng kỳ năm 2017.

- Số người nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp là 1.323 người, số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp là 1.394 người, số người có quyết định hỗ trợ học nghề là 16 người.

- Theo kết quả rà soát hộ nghèo, cận nghèo đầu năm 2018, tổng số hộ toàn tỉnh 302.092 hộ; trong đó số hộ nghèo 11.085 hộ, chiếm 3,67% so với tổng số hộ toàn tỉnh; số hộ cận nghèo 14.445 hộ, chiếm 4,78% so với tổng số hộ toàn tỉnh; Hướng dẫn các địa phương thực hiện việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 100% người thuộc hộ nghèo.

- Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh vận động được 600 triệu đồng, trợ giúp cho 08 trẻ em phẫu thuật tim bẫm sinh miễn phí. Trợ cấp đột xuất cho 01 trẻ em bị gảy chân, 01 trẻ em bị đuối nước ở huyện Phú Quý; 03 trẻ em bệnh hiệm nghèo ở huyện Hàm Thuận Nam, với tổng kinh phí 39 triệu đồng từ nguồn Quỹ BTTE tỉnh.

- Toàn tỉnh có 2.306 người nghiện ma túy. Có 106/127 xã, phường, thị trấn trong tỉnh có người sử dụng trái phép chất ma túy, chiếm 83,46% về xã, phường, thị trấn có tệ nạn ma túy. Đã vận động người nghiện ma túy tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone luỹ kế đến ngày 08/03/2018 là 1.345/1.457 người nghiện Heroin có hồ sơ quản lý (đạt 92,31%). Trong số 1.345 người đăng ký điều trị Methadone, hiện nay còn 797 bệnh nhân hiện đang duy trì tham gia điều trị.

Nhìn chung, người dân trong tỉnh rất phấn khởi với một mùa xuân đầm ấm, tươi vui, đặc biệt với sự quan tâm, chăm lo của Đảng và Nhà nước đối với người có công và các đối tượng xã hội thông qua các hoạt động thăm viếng, tặng quà trong dịp Tết và các chính sách hỗ trợ khác góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế. Các hoạt động thăm, tặng quà cho người có công, người cao tuổi và trợ cấp hộ nghèo nhân dịp Tết Nguyên đán được các địa phương, đoàn thể, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp, nhà hảo tâm thăm hỏi, tặng quà cho người nghèo, các gia đình chính sách một cách chu đáo. Sự chung tay của toàn xã hội góp phần tăng cường nguồn lực chăm lo Tết cho người nghèo, khơi dậy và thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách” rộng khắp trong các tầng lớp nhân dân trong tỉnh.

5. Thực hiện chính sách bảo hiểm:

Đến cuối tháng 02/2018, toàn tỉnh có 89.209 người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc (tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước); tham gia BHXH tự nguyện 793 người (tăng 11,5%); tham gia bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) 79.596 người (tăng 3,5%); tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) 974.465 người (tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước); tỷ lệ bao phủ BHYT toàn tỉnh đạt 76,8% dân số.

Tổng số tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN toàn tỉnh đến cuối tháng 02/2018 là 172,4 tỷ đồng, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước (chiếm 8,35% so với kế hoạch thu năm 2018).

Công tác cấp sổ BHXH, BHYT luôn đảm bảo kịp thời cho người lao động và các đối tượng được hưởng chế độ bảo hiểm. Đến cuối tháng 02/2018, đã cấp 2.485 sổ BHXH và cấp 536.974 thẻ BHYT tế cho người dân.

   Đã giải quyết cho 7.647 người hưởng các chế độ BHXH, BHTN; trong đó: Hưởng chế độ BHXH dài hạn: 143 người; trợ cấp BHTN: 643 người; trợ cấp BHXH một lần: 1.021 người; các chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức - phục hồi sức khỏe: 5.840 lượt người (tính đến cuối tháng 02/2018).

   Nhìn chung từ đầu năm đến nay, công tác phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm đã có chuyển biến tích cực; việc giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng; cấp sổ BHXH, thẻ BHYT chính xác, trả sổ BHXH cho người lao động cơ bản đúng kế hoạch; thực hiện tốt việc chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng, BHTN đảm bảo đầy đủ, kịp thời, an toàn.

6. Tai nạn giao thông, cháy nổ:

Trong 2 tháng (từ ngày 16/01/2017 đến 15/02/2018) trên địa bàn tỉnh xảy ra như sau:

- Số vụ tai nạn giao thông 37 vụ (so với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ).  Trong đó, đường sắt không có vụ tai nạn nghiêm trọng nào xảy ra. Số người bị thương 28 người (so với cùng kỳ năm trước giảm 12 người). Số người chết 17 người (so với cùng kỳ năm trước giảm 6 người). Các vụ tai nạn giao thông chủ yếu xảy ra ở khu vực ngoài đô thị, nguyên nhân chính vẫn là lái xe trong tình trạng vi phạm quy định nồng độ cồn, sai phần đường, làn đường, quá tốc độ, chở quá số người quy định, chuyển hướng không báo hiệu; người đi mô tô, xe máy, lạng lách, đánh võng trên đường,…

- Số vụ cháy nổ trong tháng (từ ngày 22/02/2018 đến 15/3/2018) là 06 vụ (tăng 01 vụ so cùng kỳ năm trước); không có số người chết và bị thương; tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính 150 triệu đồng (tăng 7,63 lần so cùng kỳ năm trước).

Trên đây là tình hình kinh tế xã hội quý I/2018, Cục Thống kê kính gửi đến lãnh đạo các cấp, các ngành./.

CTK Bình Thuận

 




TIN TỨC CÙNG LOẠI KHÁC:













 
 
 
 
 
 
Trang: 
/