NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP VÀ NÔNG DÂN BÌNH THUẬN

TRÊN ĐƯỜNG ĐỔI MỚI

(Qua số liệu Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp

và thủy sản năm 2001 và 2006)

I. TÌNH HÌNH NÔNG THÔN

1. Kết cấu hạ tầng nông thôn tiếp tục được xây dựng mới và nâng cấp tạo tiền đề đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

1.1. Phát triển nhanh mạng lưới điện ở nông thôn đã tạo điều kiện thuận lợi để điện khí hoá nông thôn, nông nghiệp, phục vụ sản xuất và đời sống.

Nếu năm 2001 toàn tỉnh có 91,3% số xã, 85,75% số thôn, ấp, bản (gọi chung là thôn) và 77,48% số hộ có điện; thì đến năm 2006 đã có 100% số xã, 98,42% số thôn có điện (trong đó 96,17% số thôn có điện lưới quốc gia) và tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng điện đạt tới 94,02%. Như vậy, sau 05 năm tỷ lệ số hộ có điện đã tăng thêm 16,54%, nên đến năm 2006 ở khu vực nông thôn chỉ còn 5,98% số hộ chưa có. Cả tỉnh đã có 97 xã đạt 100% số xã có điện; 5 huyện, thành phố có 100% thôn có điện (Tp. Phan Thiết, Thị xã La Gi, Huyện Hàm Thuận Bắc, Huyện Đức Linh, Huyện Hàm Tân). Tỷ lệ hộ có điện năm 2006 so với năm 2001 tăng nhanh ở các huyện như Phan Thiết tăng 52,1%, Hàm Thuận Bắc tăng 41,83%, Hàm Thuận Nam tăng 56,57%, Tánh Linh tăng 41,03%, Đức Linh 50,18%. Riêng huyện đảo Phú Quý sử dụng điện máy nổ.

1.2. Đường giao thông nông thôn được xây dựng và nâng cấp cả về số lượng và chất lượng.

Với phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm", giao thông nông thôn có bước phát triển cả về số lượng và chất lượng, góp phần tích cực tạo cơ sở hạ tầng thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh về khu vực nông thôn, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và giải quyết được nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác.

Đến năm 2006 cả tỉnh 97 xã có đường ô tô đến được trụ sở UBND xã, chiếm 100% tổng số xã (năm 2001 là 98,91%); trong đó 100% có đường ô tô đi lại được quanh năm và 87 xã (chiếm 89,69%) có đường ô tô được nhựa, bê tông hóa.

Hệ thống đường giao thông nội bộ xã - liên thôn đã được nâng cấp đáp ứng cho việc đi lại của nhân dân được thuận lợi. Cả tỉnh có 65 xã, chiếm 67,01% tổng số xã (năm 2006 là 41,3%) có đường liên thôn được nhựa, bê tông hoá theo các mức độ khác nhau; trong đó 7 xã chiếm 7,22% tổng số xã (năm 2006 đạt 5,43%) đã nhựa, bê tông hóa trên 70% các tuyến đường liên thôn.

Mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể, nhưng ở một số địa phương, đường giao thông nông thôn vẫn chưa thuận lợi cho phát triển sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, tỷ lệ xã có đường liên thôn được nhựa, bê tông hóa nhìn chung còn thấp so với các tỉnh trong khu vực,…

1.3. Hệ thống trường học các cấp tiếp tục được mở rộng về số lượng và cơ bản xoá trường, lớp tạm.

Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Nhà nước, hệ thống trường học các cấp ở nông thôn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về số lượng và cơ sở trường lớp. Trước hết là hệ thống trường học các cấp ở nông thôn tiếp tục được mở rộng và phát triển, đến năm 2006 có 97,94% số xã có lớp mẫu giáo/mầm non, 100% số xã có trường tiểu học, 82,47% số xã có trường trung học cơ sở (năm 2001 là 75%), 8,25% số xã có trường trung học phổ thông (năm 2001 là 4,35%). Điểm tiến bộ về giáo dục tiểu học là số trường bình quân 1 xã đạt 2,22 trường (Thị xã La Gi bình quân 2 trường; Tuy Phong 2,2 trường; Bắc Bình 2,18 trường; Hàm Thuận Bắc là 2,28 trường; Hàm Thuận Nam 2,08 trường; Tánh Linh 2 trường; Đức Linh 2,45 trường), việc mở thêm các điểm trường ở các thôn đã tạo điều kiện thuận lợi để học sinh không phải đi học xa, giảm được tình trạng học sinh bỏ học so với trước, ở một huyện khó khăn như huyện đảo Phú Quý bình quân cũng đạt 2 trường trên 1 xã năm 2006.

Bên cạnh tiến bộ về số lượng trường học, lớp học các cấp tăng nhanh, phong trào xây dựng trường học kiên cố, xoá trường, lớp học tạm đạt kết quả đáng khích lệ. Tỷ lệ trường học được xây dựng kiên cố và bán kiên cố tương ứng ở các cấp học là mẫu giáo/mầm non đạt 14,96% và 84,25%, tiểu học đạt 32,09% và 67,44% (năm 2001 là 32,67% và 65,33%), trung học cơ sở đạt 65,48% và 32,14% (năm 2001 là 53,62% và 46,38%), trung học phổ thông đạt 100% (năm 2001 là 60% và 40%).

1.4. Hệ thống y tế nông thôn được quan tâm xây dựng đã và đang trở thành tuyến chăm sóc sức khoẻ ban đầu quan trọng của nhân dân.

Hệ thống y tế xã phát triển cả về số lượng trạm y tế, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế, cơ sở vật chất và các trang thiết bị khám chữa bệnh. Đến năm 2006, có 94 xã có trạm y tế, chiếm 96,91% tổng số xã và tăng 2 xã so với năm 2001. Bình quân 1 trạm y tế xã có 0,8 bác sỹ và 1000 dân có 7,6 bác sỹ (năm 2001 các con số tương ứng là 0,9 và 8,1). Khu vực nông thôn có 94 trạm y tế xã, trong đó có 35,11% trạm y tế đã được xây dựng kiên cố (còn lại 61,7% bán kiên cố và 3,19% là khác); Thực hiện chủ trương xã hội hoá trong lĩnh vực y tế, cùng với việc mở rộng mạng lưới y tế công lập, hệ thống khám, chữa bệnh tư nhân hình thành và góp phần quan trọng vào chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Đến năm 2006, có 46 xã chiếm 47,42% số xã có cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn xã; trong đó vùng có tỷ lệ xã có cơ sở khám chữa bệnh tư nhân cao là vùng miền núi chiếm 73,91%. Ngoài các cơ sở khám, chữa bệnh, đến nay đã có 52 xã, chiếm 53,6% số xã, có cửa hàng dược phẩm (nhà thuốc) phục vụ bán thuốc phòng, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn được thuận lợi.

Để phục vụ và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nông thôn tốt hơn, hệ thống y tế thôn đã được chú ý và mở rộng. Đến năm 2006, có 272/444 thôn (chiếm 61,26%) số thôn có cán bộ y tế thôn; trong đó vùng miền núi chiếm tỷ lệ cao nhất 74,26% (202/272 thôn) số thôn có cán bộ y tế thôn.

Thực hiện chương trình cung cấp nước sạch nông thôn đạt được những kết quả khả quan, với 42,26% số xã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung; trong đó những vùng đạt tỷ lệ cao là trung du 24,39%, miền núi 48,78%, vùng cao 17,07% và đồng bằng là 9,76%. Vệ sinh môi trường nông thôn đang từng bước được quan tâm, đến nay đã có 1,3% số thôn có hệ thống thoát nước thải chung và 42,26% số xã có tổ chức/hoặc thuê thu gom rác thải; trong đó các vùng có cả 2 tỷ lệ trên đạt cao là vùng đồng bằng, vùng trung du. Cùng với những nỗ lực của nhân dân trong việc sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cho ăn uống và bảo vệ môi trường, tình hình vệ sinh môi trường ở nông thôn ngày càng được cải thiện.

Có thể thấy, số bác sỹ của các trạm y tế xã bình quân trên 1000 dân của một số huyện còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ sức khoẻ cho nhân dân, như: Phan Thiết chỉ có 0,5 bác sỹ, Tánh Linh 0,6 bác sỹ, Hàm Tân, Phú Quý có 0,3 bác sỹ. Việc phát triển các làng nghề, cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản và các cụm/khu công nghiệp ở khu vực nông thôn, nhưng chưa chú trọng đến công tác đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý nước thải, chất thải đang là nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường.

1.5. Mạng lưới thông tin, văn hóa phát triển nhanh, góp phần cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân.

Đến năm 2006, khu vực nông thôn có 75 xã, chiếm 77,32% số xã có điểm bưu điện văn hoá (năm 2001 là 48,91%), đây là một loại hình kết hợp giữa bưu điện và văn hóa do ngành Bưu điện đầu tư xây dựng và phát triển tương đối đồng đều. Tỷ lệ xã có điểm bưu điện văn hoá được nối mạng internet đạt 32,0%; trong đó vùng Miền núi có tỷ lệ cao nhất là 80,77%, tiếp đến là vùng cao 11,54% và thấp nhất là vùng trung du 7,69%. Ngoài ra khu vực nông thôn còn có 44 xã, chiếm 45,36%, có trạm bưu điện xã. Cả hai loại hình điểm bưu điện văn hoá xã và trạm bưu điện xã về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu thông tin liên lạc ở khu vực nông thôn. Những năm gần đây trên địa bàn xã phát triển nhanh các điểm dịch vụ internet tư nhân phục vụ nhu cầu truy cập thông tin của nhân dân, đến năm 2006 đã có 34 xã (chiếm 35,05%), với 63 điểm internet tư nhân, bình quân 1 xã có 0,65 điểm. Số hộ có máy điện thoại (cố định/di động) là 31.471 hộ, chiếm 20,4% số hộ, tăng 154,7% so năm 2001; bình quân cứ 4,9 hộ thì có 1 hộ có máy điện thoại. Có 92,78% số xã có hệ thống loa truyền thanh đến thôn, 5,15% số xã có thư viện và 17,53% số xã có nhà văn hoá xã (năm 2001 các con số tương ứng là 38,04%, 1,09%, 2,17%). Hệ thống nhà văn hoá/nhà sinh hoạt cộng đồng thôn đã được xây dựng và phát triển nhanh làm địa điểm cho nhân dân trong thôn hội họp và sinh hoạt văn hoá, đến năm 2006 có 39,41% số thôn có nhà văn hoá/nhà sinh hoạt cộng đồng.

1.6. Hệ thống ngân hàng, chợ, làng nghề và cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản đã góp phần thúc đẩy phát triển đa dạng sản xuất kinh doanh ở nông thôn.

Hệ thống ngân hàng thương mại và quỹ tín dụng nhân dân được hình thành ở khu vực nông thôn nhiều hơn những năm trước, tạo thuận lợi cho nhân dân tiếp cận vay vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh. Đến năm 2006, có 5 xã, chiếm 5,15% số xã, có ngân hàng/chi nhánh ngân hàng đóng trên địa bàn; có 20 xã, chiếm 20,61% số xã, có quỹ tín dụng nhân dân. Tỷ lệ xã xã thuộc chương trình 135 có ngân hàng/chi nhánh ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân còn rất thấp 4 xã chỉ chiếm 12,12%.

Chợ nông thôn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế hàng hoá, kích thích trao đổi hàng hoá giữa các vùng và trong nội bộ nhân dân trên địa bàn. Năm 2006, tỷ lệ xã có chợ là 74,23% (năm 2001 là 69,57%). Vùng tỷ lệ xã có chợ cao nhất là vùng miền núi 76,58% và thấp nhất là vùng cao 2,7%. Số chợ trên địa bàn xã được xây dựng kiên cố và bán kiên cố chiếm tỷ lệ 48,65%. Tuy nhiên, tỷ lệ xã có chợ ở một số huyện còn thấp… và số chợ tạm, chợ họp ngoài trời chiếm tới 51,35%.

Nhiều làng nghề được khôi phục và phát triển, cùng với sự ra đời của các khu, cụm công nghiệp, đã thu hút được nhiều nguồn vốn trong dân cư, tạo được việc làm tại chỗ cho hàng chục vạn lao động và đào tạo, bồi dưỡng những lao động phổ thông thành lao động có kỹ thuật, góp phần thúc đẩy sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Đến năm 2006, khu vực nông thôn có 12 xã (chiếm 12,37%) có làng nghề, với 13 làng nghề (năm 2001 có 1 làng nghề), số làng nghề truyền thống là 8 (chiếm tỷ lệ 61,53%). Cùng với việc phát triển làng nghề, số cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản ngày càng tăng, đến năm 2006, có 1.846 cơ sở, bình quân 1 xã có 23,4 cơ sở. Số làng nghề phát triển mới còn ít và số làng nghề không sử dụng thiết bị xử lý nước, chất thải độc hại đang là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ở nông thôn.

1.7. Hệ thống thuỷ lợi, khuyến nông, lâm, ngư cấp xã, cấp thôn được xây dựng và củng cố góp phần hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất.

Nhiều trạm bơm, hồ đập thuỷ lợi được xây dựng mới, phong trào kiên cố hoá kênh mương tiếp tục được thực hiện, thêm nhiều diện tích canh tác được tưới, tiêu góp phần tăng năng suất, sản lượng cây trồng. Đến năm 2006, có 25 trạm bơm nước phục vụ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn xã; bình quân 1 xã có 0,3 trạm bơm nước, nhiều nhất là Phan Thiết và Tánh Linh có 1 trạm, thấp nhất là Bắc Bình chỉ có 0,1 trạm.

Những năm qua Nhà nước đã quan tâm đầu tư và mở rộng hệ thống khuyến nông, lâm, ngư và thú y của xã và thôn để phục vụ, hỗ trợ nông dân trong sản xuất. Đến năm 2006, có 69,07% (67 xã) số xã có cán bộ khuyến nông, lâm, ngư với 83 người, bình quân 1 xã có 1,2 người; 26,12% số thôn có cộng tác viên khuyến nông, lâm, ngư. Có 45,36% (44 xã) số xã có cán bộ thú y của xã, với 69 người. Bên cạnh mạng lưới thú y của xã và thôn, còn có 73,19% số xã (71 xã) , với 219 người hành nghề thú y tư nhân, bình quân 1 xã có 3 người hành nghề thú y tư nhân. Tuy nhiên, một số địa phương hệ thống khuyến nông, lâm, ngư của xã và thôn chưa hình thành hoặc có nhưng tỷ lệ còn thấp. Mạng lưới thú y xã, thôn và thú y tư nhân một số địa phương còn mỏng chưa đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, đặc biệt là vào những thời điểm xảy ra dịch bệnh.

2. Nhà nước thực hiện nhiều chính sách xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Nền kinh tế của tỉnh ta những năm qua liên tục tăng trưởng cao, cân đối thu chi ngân sách nhà nước bước đầu đã có những chuyển biến theo hướng tích cực. Nhà nước thực hiện nhiều chính sách xã hội ở khu vực nông thôn, nhất là những xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Nhiều chương trình đã và đang được thực hiện như: Chương trình mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và việc làm, Chương trình 135, Chương trình 5 triệu ha rừng, Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, Chương trình mục tiêu quốc gia Giáo dục và Đào tạo... Thông qua các chương trình đó, hàng loạt dự án cụ thể được triển khai và đã phát huy những tác dụng tích cực như: Dự án Tín dụng cho hộ nghèo vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh; Dự án Hướng dẫn cho người nghèo cách làm ăn, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; Dự án Xây dựng mô hình xóa đói giảm nghèo ở các vùng đặc biệt; Dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng ở các xã nghèo; Dự án Hỗ trợ sản xuất và phát triển ngành nghề ở các xã nghèo; Dự án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác xoá đói giảm nghèo và cán bộ các xã nghèo; Dự án Tổ chức cho vay vốn theo các dự án nhỏ giải quyết việc làm thông qua Qũy Quốc gia hỗ trợ việc làm; Dự án Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có nhiều khó khăn; Dự án Tăng cường cơ sở vật chất các trường học…

 

Trong năm 2005, khu vực nông thôn có 3.671 hộ, chiếm tỷ lệ 2,38% được hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở, trong đó vùng có tỷ lệ hộ được hỗ trợ cao miền núi là 69,79%, vùng cao 18,41%; đào tạo nghề miễn phí cho 2.929 lượt người. Cũng trong năm 2005, khu vực nông thôn đã có 22.548 hộ (chiếm tỷ lệ 14,64%) được vay vốn theo các chương trình, dự án; trong đó vùng có tỷ lệ hộ được vay cao là vùng miền núi 58,75%, trung du 24,3%.

Để tạo điều kiện cho những đối tượng khó khăn ở khu vực nông thôn được khám chữa bệnh, Nhà nước có chủ trương cấp miễn phí bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, người dân ở các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn, người dân các dân tộc thiểu số. Đến năm 2006, khu vực nông thôn đã có 87.429 người (chiếm tỷ lệ 56,66%) và 15.406 hộ (chiếm tỷ lệ 9,98%) được cấp miễn phí bảo hiểm y tế; trong đó các tỷ lệ tương ứng ở vùng đồng bằng 2,81% và 1,84%; trung du là 10,12% và 10,7%; miền núi là 74,39% và 74,25%; vùng cao là 12,31% và 12,63%; vùng hải đảo là 0,38% và 0,58%.

3. Chính quyền xã được quan tâm về điều kiện làm việc và nâng cao trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

Xã là cấp cơ sở có vị trị rất quan trọng trong việc triển khai tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước, quyết định sự thành công của các chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn. Vì vậy, ngoài kiến thức về chuyên môn kỹ thuật, đội ngũ cán bộ xã được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị và kiến thức quản lý nhà nước, chức danh chuyên môn của UBND xã đã được hưởng một số chính sách như công chức nhà nước.

Cán bộ chủ chốt của xã tuổi đời tiếp tục trẻ hoá, năng động, trình độ văn hoá, chuyên môn được nâng cao hơn trước, từng bước được tiêu chuẩn hoá. Năm 2006, cán bộ chủ tịch UBND xã có trình độ giáo dục trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 79,2% (năm 2001 là 57,60%).

Trụ sở làm việc của Đảng uỷ và Uỷ ban nhân dân xã được nâng cấp và hiện đại hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý, chỉ đạo điều hành được thông suốt, kịp thời giữa các cấp, các ngành cũng như nhiều lợi ích khác. Đến năm 2006, có 52,6% trụ sở UBND xã được xây dựng kiên cố, 94,8% trụ sở xã có máy điện thoại (năm 2001 là 82,6%), có 100% trụ sở xã có máy vi tính và 4,1% trụ sở xã có máy vi tính kết nối mạng internet.

Tuy nhiên, mặt bằng về trình độ cán bộ chủ chốt của xã, cũng như điều kiện làm việc của xã ở các vùng trong tỉnh có sự chênh lệch nhau lớn. Nhiều huyện trình độ chuyên môn, lý luận chính trị hoặc quản lý nhà nước của cán bộ chủ chốt của xã còn hạn chế. Số cán bộ xã có trình độ về chuyên môn hoặc lý luận chính trị từ đại học trở lên còn rất thấp, mới chiếm 11,7%. Đây là trở ngại không nhỏ trong việc đưa nông nghiệp, nông thôn lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

4. Kinh tế nông thôn phát triển theo hướng đa dạng hoá ngành nghề và đang dần phá thế thuần nông nhưng quá trình đó diễn ra không đồng đều giữa các vùng.

4.1. Cơ cấu ngành nghề và cơ cấu thu nhập của hộ nông thôn có sự thay đổi nhanh theo hướng tích cực.

Số hộ nông thôn toàn tỉnh tại thời điểm 01/7/2006 là 154.291 hộ, tăng 9.033 hộ (+6,63%) so với năm 2001. Cơ cấu ngành nghề ở khu vực nông thôn có sự thay đổi nhanh theo hướng tích cực, giảm số lượng và tỷ trọng nhóm hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản; tăng số lượng và tỷ trọng nhóm hộ công nghiệp và dịch vụ. Đến 1/7/2006, số hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ở nông thôn là 111.915 hộ, giảm 0,36%; số hộ công nghiệp, xây dựng là 11.672 hộ, tăng 55,61%; số hộ dịch vụ là 26.141 hộ, tăng 25,23% so với năm 2001. So với năm 2001, tỷ trọng hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản khu vực nông thôn giảm từ 77,62% xuống còn 72,54% (- 5,09), tỷ trọng hộ công nghiệp và xây dựng tăng từ 5,18% lên 7,56% (+2,38%); tỷ trọng hộ dịch vụ từ 14,43% lên 16,94% (+2,52%). Tỷ trọng cả hai nhóm hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ đã tăng 4,9%, tỷ trọng nhóm hộ khác (hộ không hoạt động kinh tế) tăng 0,19%. Sự chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn thời kỳ 2001-2006 diễn ra nhanh và rõ nét hơn so với các thời kỳ trước đây; trong đó, vùng trung du chuyển dịch tương đối nhanh (tỷ trọng hộ công nghiệp, xây dựng và dịch vụ từ 22,98% năm 2001 lên 32,13% năm 2006), tiếp đến là vùng miền núi (tăng từ 15,69% lên 22,17% trong thời gian tương ứng).

Cơ cấu ngành nghề của hộ nông thôn năm 2001 và năm 2006

Cơ cấu hộ theo nguồn thu nhập chính phản ánh xu hướng phát triển đa dạng hoá ngành nghề ở nông thôn. Phát triển ngành nghề ngày càng đa dạng dần phá thế thuần nông ở nông thôn, và hiệu quả sản xuất của các hoạt động phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về cơ cấu hộ theo ngành nghề và theo nguồn thu nhập chính. Đến năm 2006, tỷ lệ hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 72,54% số hộ ở khu vực nông thôn.

4.2. Cơ cấu ngành nghề của lao động có sự chuyển dịch nhanh hơn so với cơ cấu ngành nghề của hộ và trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn được nâng lên.

Cơ cấu hộ nông thôn theo nguồn thu nhập chính năm 2001 và năm 2006

Sự chuyển dịch về cơ cấu ngành nghề của lao động ở khu vực nông thôn nhanh hơn so với cơ cấu ngành nghề của hộ. Tỷ lệ số người trong tuổi lao động có khả năng lao động và trên tuổi thực tế có lao động phân theo hoạt động chính trong 12 tháng qua là: cơ cấu lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao chiếm 68,9%, tuy nhiên so với năm 2001 tỷ lệ này giảm 6,67%; lao động công nghiệp – xây dựng chiếm 8,65% tăng 2,27% so năm 2001; lao động dịch vụ chiếm 18,05% tăng 2,98% so với năm 2001; lao động không có việc làm có chiều hướng tăng 4,39% so với năm 2001 (2,97%).

Cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo nghề miễn phí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn đã nâng lên. Tuy nhiên trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động ở khu vực nông thôn còn yếu về chất lượng, thiếu về số lượng, gần 93,8% lao động chưa qua đào tạo (năm 2001 là 94,5%); chỉ có 6,2% lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên (năm 2001 là 5,05%)

4.3. Hộ nông thôn tích cực đầu tư phát triển sản xuất để tăng thu nhập, tăng tích luỹ góp phần xoá đói, giảm nghèo ở khu vực nông thôn.

Hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng có vai trò quan trọng tạo nguồn vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh của hộ nông thôn.

Để có vốn sản xuất kinh doanh, ngoài nguồn vốn tự có, các hộ nông thôn còn đi vay vốn của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, quĩ hỗ trợ cho các chương trình, dự án và các khoản vay trong dân. Năm 2005, tỷ lệ hộ vay vốn sản xuất kinh doanh chiếm 14,61%. Bình quân 1 hộ nông thôn vay 4,78 triệu đồng, nguồn vốn vay sản xuất kinh doanh của hộ chủ yếu vay từ ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, tiếp đến là vay của ngân hàng chính sách xã hội.

4.4. Điều kiện sinh hoạt của hộ nông thôn ngày càng được cải thiện.

Nhà ở khu vực nông thôn được cải thiện cả về loại nhà và diện tích. Những năm gần đây do kinh tế hộ gia đình phát triển, tích luỹ trong dân tăng khá, nên hộ nông thôn đã đầu tư xây mới và sữa chữa nhà ở khang trang hơn; mặt khác thực hiện chủ trương xây nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách và hỗ trợ giúp đỡ người nghèo xoá nhà tạm, nhà dột nát đạt được những kết quả đáng khích lệ. Đến năm 2006, khu vực nông thôn có 9.212 hộ chiếm 5,97% hiện đang ở nhà kiên cố, có 106.638 hộ chiếm 69,11% đang ở nhà bán kiên cố và 19.257 hộ chiếm 12,48% đang ở nhà các loại nhà khác. Vùng có tỷ lệ hộ hiện đang ở nhà kiên cố và bán kiên cố cao nhất là vùng trung du (7,76%), các vùng còn lại có tỷ lệ ngang bằng nhau từ 5,02% - 5,76%. Không những tăng tỷ lệ hộ nông thôn ở loại nhà kiên cố và bán kiên cố, mà diện tích để ở bình quân 1 hộ của từng loại nhà cũng được cải thiện. Diện tích nhà ở bình quân 1 hộ đạt 57,76 m2; trong đó hộ ở nhà kiên cố là 78,86 m2, hộ ở nhà đơn sơ là 35,15 m2.

Mức trang bị đồ dùng lâu bền của hộ nông thôn tăng nhiều so năm 2001. Xu hướng chung là hộ nông thôn ngày càng mua sắm đồ dùng đắt tiền dùng cho sinh hoạt. Tại thời điểm 1/7/2006, tỷ lệ hộ có xe máy là 66,48% tăng 30,64% so năm 2001, có ti vi màu là 72,02% tăng 33,35%, có đầu video/VCD là 48,43% tăng 28,17%, có tủ lạnh/tủ đá là 10,53% tăng 6,65%, có điện thoại cố định là 16,49%, có điện thoại di động là 9,16%, có quạt điện các loại là 80,22%.

Số lượng một số đồ dùng lâu bền chủ yếu của hộ năm 2001 và năm 2006

Sử dụng nguồn nước hợp vệ sinh cho ăn uống và các công trình vệ sinh đảm bảo môi trường có nhiều tiến bộ.

Chương trình cung cấp nước sạch nông thôn đạt được những kết quả khả quan với 42,26% số xã có công trình cấp nước sinh hoạt tập trung, cùng với những nỗ lực của hộ nông thôn, các nguồn cung cấp nước cho ăn uống ngày càng đảm bảo vệ sinh. Đến năm 2006, tỷ lệ hộ dùng nguồn nước chính cho ăn uống là: nước máy 18,47% tăng 8,4% so năm 2001, nước mưa là 3,2%, nước giếng khoan 11,69%, nước giếng xây 51,2%.

Để tránh ô nhiễm môi trường và hạn chế nạn khai thác củi bừa bãi, sử dụng chất đốt dùng để nấu ăn của hộ nông thôn đã được cải thiện. Đến năm 2006, tỷ lệ hộ nấu ăn bằng các loại chất đốt như sau: dùng gas là 33,45%, dùng than là 20,84%, dùng củi là 43,66 và nguồn khác là 0,63.

Tỷ lệ hộ sử dụng nhà tắm là 65,8%, tăng 31,8% so với năm 2001; trong đó tỷ lệ hộ sử dụng nhà tắm xây là 42,45%. Vùng có tỷ lệ hộ sử dụng nhà tắm cao nhất là vùng miền núi 42,36%, tiếp đến là vùng trung du 11,78% và thấp nhất là hải đảo 2,81%.

Tỷ lệ hộ có sử dụng nhà tiêu là 67,8%; trong đó hộ sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 47,2%, tăng 7,6% so năm 2001 và nhà tiêu khác là 32,1%.

Tóm lại: Trong những năm qua nông thôn tỉnh ta thực sự có những đổi mới mang tính toàn diện. Kết cấu hạ tầng nông thôn đã được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp cả về chiều rộng và chiều sâu. Các điều kiện hỗ trợ, bảo đảm cho sản xuất kinh doanh của hộ được tăng cường. Chính quyền xã từng bước được xây dựng hiện đại, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiến triển nhanh theo hướng tích cực. Nhiều chính sách xã hội được Nhà nước quan tâm thực hiện và đạt được những kết quả khả quan. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Đó là kết quả đáng khích lệ trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết 5 (khóa IX) về đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001-2010, nhất là các chương trình hỗ trợ đối với những xã vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, nông thôn tỉnh ta còn những vấn đề cần được tiếp tục quan tâm trong thời gian tới. Kết cấu hạ tầng nông thôn chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Về điện khí hoá, đến nay vẫn còn 9.225 hộ trên toàn tỉnh chưa có điện. Việc mở rộng và nâng cấp đường giao thông nông thôn chưa đồng đều. Hệ thống giao thông liên thôn chủ yếu mới được nâng cấp ở các vùng đồng bằng và trung du. Còn 3,1% trạm y tế xã chưa được xây dựng kiên cố và bán kiên cố, số trạm y tế xã chưa có bác sỹ vẫn còn nhiều. Làng nghề và cơ sở chế biến nông, lâm, thuỷ sản tăng nhanh, nhưng khâu xử lý nước thải, chất thải chưa được quan tâm đang là mối đe doạ nguy cơ ô nhiễm môi trường ở nông thôn. Một số vùng cơ cấu hộ nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ lệ cao, ngành nghề phát triển chậm và tỷ lệ hộ thuần nông cao. Chất lượng lao động nông thôn tuy đã có những tiến bộ, nhưng tỷ lệ lao động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn quá thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.


Về đầu trang